CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
4401 Ảnh hưởng của hành vi tương tác qua truyền thông mạng xã hội đến trung thành thương hiệu : trường hợp khách du lịch tại Đà Nẵng / // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 53 .- Tr. 62-64 .- 658
Đánh giá sự ảnh hưởng của các cấp độ hành vi tương tác qua truyền thông mạng xã hội đến mối quan hệ thành viên trong cộng đồng xã hội trực tuyến và trung thành thương hiệu trong bối cảnh nghiên cứu là điểm đến du lịch. Khảo sát online được thực hiện để thu thập dữ liệu từ những khách du lịch nội địa là những người đã từng đến du lịch ở Đà Nẵng và có sự tương tác trên Facebook như bình luận, chia sẻ, tạo dựng nội dung về điểm đến Đà Nẵng. Với 265 bản câu hỏi hợp lệ đã được đưa vào phân tích và kiểm định giả thuyết thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính dựa trên hiệp phương sai (CB-SEM). Kết quả thể hiện các mối quan hệ giữa các nhân tố đều có ý nghĩa về mặt thống kê, ngoại trừ giả thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa hành vi bình luận và trung thành thương hiệu. Cuối cùng, những hàm ý liên quan đến lý thuyết và quản lý được thảo luận.
4402 Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân của một chi nhánh ngân hàng thương mại - Nghiên cứu trường hợp ACB Thăng Long / // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 153 .- Tr. 71-82 .- 658
Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân (KHCN) của ngân hàng thương mại (NHTM), với trường hợp nghiên cứu điển hình tại ACB - Chi nhánh Thăng Long. Với mô hình EFA, CFA và SEM trên 381 quan sát, các phát hiện chính của nghiên cứu là: (i) các nhân tổ có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân xếp theo thứ tự bao gồm: Nhận thức sự hữu ích, Hình ảnh ngân hàng, Quy trình phục vụ, Chuẩn chủ quan; (ii) Lãi suất có tác động ngược tới ý định đi vay của khách hàng cá nhân, nên chắc chắn lãi suất thấp là một công cụ hữu hiệu để kích thích cầu vay- vốn; (iii) các giải pháp để gia tăng ý định đi vay ngân hàng thương mại của khách hàng cá nhân cần tập trung vào việc tăng nhận thức sự hữu ích của khách hàng, hình ảnh và sự chuyên nghiệp của ngân hàng.
4403 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất cân xứng thông tin trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Thị Hiên // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 153 .- Tr. 83-90 .- 658
Đánh giá tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường cho đến nay. Ngoài tác động trực tiếp của FDI tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam, bài viết còn xem xét tác động tương tác của một số biến kinh tế có mối tương quan với FDI và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam như giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu (EX), mức độ lạm phát (INF) và dân số Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của Việt Nam trong giai đoạn từ 2001 đến 2019, lấy từ nguồn Ngân hàng Thế Giới với mô hình hồi quy tuyến tính OLS, chạy với sự hỗ trợ của phần mềm STATA 14. Kết quả nghiên cứu cho thấy FDI thực sự có sự tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Đây chỉnh là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính sách phù hợp cho thu hút FDI nói riêng và chính sách kinh tế nói chung trong thời gian tới.
4404 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu tại Việt Nam / Phan Hữu Nghị // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 153 .- Tr. 91-104 .- 658
Đánh giá tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường cho đến nay. Ngoài tác động trực tiếp của FDI tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam, bài viết còn xem xét tác động tương tác của một số biến kinh tế có mối tương quan với FDI và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam như giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu (EX), mức độ lạm phát (INF) và dân số Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của Việt Nam trong giai đoạn từ 2001 đến 2019, lấy từ nguồn Ngân hàng Thế Giới với mô hình hồi quy tuyến tính OLS, chạy với sự hỗ trợ của phần mềm STATA 14. Kết quả nghiên cứu cho thấy FDI thực sự có sự tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Đây chỉnh là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính sách phù hợp cho thu hút FDI nói riêng và chính sách kinh tế nói chung trong thời gian tới.
4405 Nghiên cứu tác động của chất lượng và giá trị dịch vụ, đến sự hài lòng của sinh viên tại một số trường đại học tư thục trên địa bàn Hà Nội / Vũ Tuấn Dương, Nguyễn Thị Thanh Nhàn // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 153 .- Tr. 105-116 .- 658
Xem xét tác động của các thành phần của chất lượng dịch vụ và giá trị dịch vụ tới sự hài lòng của sinh viên. Bằng Việc vận dụng một số thang đo chất lượng dịch vụ giáo dục như thang đo HEdPERE thang đo của Jain và cộng sự (2013). Bởi thang đo giá trị dịch vụ giáo dục thì thang LeBlanc và Nguyễn (1999) và thang đo giá trị của Sweeney và cộng sự (2001). Thông qua bộ dữ liệu sơ cấp từ 1068 sinh viên tại 3 trường đại học tư thục trên địa bàn Hà Nội bao gồm: Đại học Đại Nam, Đại học Thăng Long và Đại học Phương Đông. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, nghiên cứu đã kiểm chứng mối quan hệ giữa 3 nhóm yếu tố giá trị dịch vụ, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của sinh viên đồng thời đánh giá mức độ tác động của hai yếu tố chất lượng và giá trị dịch vụ tới sự hài lòng. Giá trị dịch vụ có mức độ tác động cao hơn chất lượng dịch vụ và có xu hướng tăng dần mức độ tác động theo thời gian sử dụng dịch vụ do trường đại học cung cấp.
4406 Dự báo tăng trưởng kinh tế và lạm phát Việt Nam : một so sánh giữa mô hình VAR, LASSO VÀ MLP / Nguyễn Đức Trung, Lê Hoàng Anh và Đinh Thị Phương Anh // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 3-13 .- 330
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai chỉ tiêu quan trọng đối với bất kỳ nền kinh tế nào trên thế giới. Do tầm quan trọng của hai biến số này với nền kinh tế, việc dự báo tăng trưởng kinh tế và lạm phát trở thành vấn đề quan trọng và luôn nhận được sự quan tâm của chính phủ các quốc gia. Bài báo này nhằm cung cấp một sự so sánh về hiệu quả dự báo tăng trưởng kinh tế và lạm phát giữa các phương pháp phổ biến hiện nay. Cụ thể, mô hình dự báo tăng trưởng kinh tế và lạm phát được nhóm tác giả xây dựng và ước lượng thông qua 3 mô hình là VAR, LASSO, MLP. Với dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 1996 - 2020, kết quả nghiên cứu cho thấy theo cả 3 chỉ số RMSE, MAPE và MSE, dự báo tăng trưởng kinh tế bằng mô hình LASSO có mức độ chính xác cao nhất trong khi dự báo lạm phát bằng mô hình VAR có mức độ chính xác cao nhất. Mặc dù mô hình nơ-ron MLP chưa cho thấy hiệu quả dự báo cao trong nghiên cứu này nhưng đây vẫn là công cụ dự báo của tương lai do mô tả được các quan hệ phi tuyến giữa các biến số trong mô hình và khả năng lập bản đồ trực quan về các mối quan hệ phi tuyến này.
4407 Các yếu tố tác động đến phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam / Hà Văn Sự, Lê Nguyễn Diệu Anh // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 14-27 .- 658
Bài viết nghiên cứu những yếu tố tác động đến việc phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển biền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế đối với trường hợp của Việt Nam thông qua việc sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL (Auto Regressive Distributed Lags). Đây là mô hình được coi là phù hợp với nghiên cứu khi phân tích về dữ liệu chuỗi thời gian và đánh giá các quan hệ ngắn hạn lẫn dài hạn. Mẫu quan sát được sử dụng trong nghiên cứu là giai đoạn 1995 - 2019, các biến lấy theo dữ liệu hàng năm. Nguồn dữ liệu được thu thập từ cơ sở dữ liệu của Tổng cục thống kê, Ngân hàng thế giới, ADB và tradingeconomics… Kết quả nghiên cứu với mô hình ARDL cho thấy có nhiều yếu tố tác động đến phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bao gồm: Yếu tố thuộc mô hình phát triển kinh tế, toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, trình độ phát triển nền kinh tế như lực lượng lao động, khoa học công nghệ, năng lực cạnh tranh. Dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu này, bài viết đã khuyến nghị một số chính sách nhằm phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới.
4408 Nghiên cứu Mô hình Z-Score vào cảnh báo sớm rủi ro hoạt động kinh doanh tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam / Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Thị Quỳnh Trang // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 28-35 .- 658
Trong thời kỳ khủng hoảng toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra, không nằm ngoài những công ty, lĩnh vực hoạt động chịu rủi ro lớn trong hoạt động kinh doanh của mình, đó chính là lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Do các công ty, xí nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 nên hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị bị ảnh hưởng. Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng của họ. Từ đó, dẫn đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua vẫn tăng, không có xu hướng giảm. Để hạn chế và giảm thiểu rủi ro cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, việc đề xuất và áp dụng các mô hình cảnh báo sớm rủi ro là hết sức cần thiết. Bài báo đề xuất giải pháp quản lý rủi ro trên cơ sở cảnh báo sớm bằng cách áp dụng mô hình Z-Score trong nghiên cứu nhằm giúp các ngân hàng thương mại xác định những khách hàng có khả năng gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng và hỗ trợ họ ra quyết định cấp tín dụng.
4409 Các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thu Thuỷ, Nguyễn Văn Tiến // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 36-48 .- 658
Chính sách cổ tức là một trong những yếu tố phản ánh hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp phát triển ổn định và lành mạnh,tạo điều kiện cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Ngành bất động sản gắn liền với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có tốc độ đô thị hóacao như Việt Nam. Trên cơ sở thực trạng các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010-2019 và kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây, bài viết sử dụng mô hình hồi quy FEM và REM nhằm phân tích các nhân tố tác động tới chính sách cổ tức của 34 doanh nghiệp bất động sản, bao gồm: Lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS), Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), Tốc độ tăng trưởng doanh thu (SGR), Quy mô tổng tài sản (SIZE), Tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV), Khả năng thanh toán hiện hành (CR) và Cổ tức của giai đoạn liền trước (PDPS). Kết quả nghiên cứu thực nghiệm được sử dụng nhằm đưa ra các khuyến nghị phù hợp dành cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
4410 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến trả công lao động tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam / Nguyễn Thị Minh Nhàn, Phạm Thị Thanh Hà // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 49-64 .- 658
Nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến trả công lao động (TCLĐ) và phân tích thực trạng sự ảnh hưởng của các yếu tố đó đến trả công lao động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Tác giả tiến hành khảo sát 700 người lao động tại các chi nhánh của BIDV trên cả nước bằng bảng hỏi được thiết kế sẵn. Số phiếu khảo sát thu về sử dụng được là 653 phiếu. Kết hợp với việc xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS và AMOS 21 cho ra kết quả như sau: Các yếu tố hiệu quả hoạt động, năng lực của đội ngũ TCLĐ, chiến lược nguồn nhân lực, pháp luật về TCLĐ và văn hóa tổ chức đều có ảnh hưởng đến trả công lao động nhưng theo các mức độ khác nhau. Trong đó, hiệu quả hoạt động là yếu tố tác động mạnh nhất đến TCLĐ tại BIDV. Từ việc phân tích thực trạng, nghiên cứu đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện các yếu tố tạo điều kiện hoàn thiện TCLĐ tại BIDV.




