CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
4411 Nghiên cứu tác động của chất lượng và giá trị dịch vụ, đến sự hài lòng của sinh viên tại một số trường đại học tư thục trên địa bàn Hà Nội / Vũ Tuấn Dương, Nguyễn Thị Thanh Nhàn // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 153 .- Tr. 105-116 .- 658
Xem xét tác động của các thành phần của chất lượng dịch vụ và giá trị dịch vụ tới sự hài lòng của sinh viên. Bằng Việc vận dụng một số thang đo chất lượng dịch vụ giáo dục như thang đo HEdPERE thang đo của Jain và cộng sự (2013). Bởi thang đo giá trị dịch vụ giáo dục thì thang LeBlanc và Nguyễn (1999) và thang đo giá trị của Sweeney và cộng sự (2001). Thông qua bộ dữ liệu sơ cấp từ 1068 sinh viên tại 3 trường đại học tư thục trên địa bàn Hà Nội bao gồm: Đại học Đại Nam, Đại học Thăng Long và Đại học Phương Đông. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, nghiên cứu đã kiểm chứng mối quan hệ giữa 3 nhóm yếu tố giá trị dịch vụ, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của sinh viên đồng thời đánh giá mức độ tác động của hai yếu tố chất lượng và giá trị dịch vụ tới sự hài lòng. Giá trị dịch vụ có mức độ tác động cao hơn chất lượng dịch vụ và có xu hướng tăng dần mức độ tác động theo thời gian sử dụng dịch vụ do trường đại học cung cấp.
4412 Dự báo tăng trưởng kinh tế và lạm phát Việt Nam : một so sánh giữa mô hình VAR, LASSO VÀ MLP / Nguyễn Đức Trung, Lê Hoàng Anh và Đinh Thị Phương Anh // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 3-13 .- 330
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai chỉ tiêu quan trọng đối với bất kỳ nền kinh tế nào trên thế giới. Do tầm quan trọng của hai biến số này với nền kinh tế, việc dự báo tăng trưởng kinh tế và lạm phát trở thành vấn đề quan trọng và luôn nhận được sự quan tâm của chính phủ các quốc gia. Bài báo này nhằm cung cấp một sự so sánh về hiệu quả dự báo tăng trưởng kinh tế và lạm phát giữa các phương pháp phổ biến hiện nay. Cụ thể, mô hình dự báo tăng trưởng kinh tế và lạm phát được nhóm tác giả xây dựng và ước lượng thông qua 3 mô hình là VAR, LASSO, MLP. Với dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 1996 - 2020, kết quả nghiên cứu cho thấy theo cả 3 chỉ số RMSE, MAPE và MSE, dự báo tăng trưởng kinh tế bằng mô hình LASSO có mức độ chính xác cao nhất trong khi dự báo lạm phát bằng mô hình VAR có mức độ chính xác cao nhất. Mặc dù mô hình nơ-ron MLP chưa cho thấy hiệu quả dự báo cao trong nghiên cứu này nhưng đây vẫn là công cụ dự báo của tương lai do mô tả được các quan hệ phi tuyến giữa các biến số trong mô hình và khả năng lập bản đồ trực quan về các mối quan hệ phi tuyến này.
4413 Các yếu tố tác động đến phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam / Hà Văn Sự, Lê Nguyễn Diệu Anh // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 14-27 .- 658
Bài viết nghiên cứu những yếu tố tác động đến việc phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển biền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế đối với trường hợp của Việt Nam thông qua việc sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL (Auto Regressive Distributed Lags). Đây là mô hình được coi là phù hợp với nghiên cứu khi phân tích về dữ liệu chuỗi thời gian và đánh giá các quan hệ ngắn hạn lẫn dài hạn. Mẫu quan sát được sử dụng trong nghiên cứu là giai đoạn 1995 - 2019, các biến lấy theo dữ liệu hàng năm. Nguồn dữ liệu được thu thập từ cơ sở dữ liệu của Tổng cục thống kê, Ngân hàng thế giới, ADB và tradingeconomics… Kết quả nghiên cứu với mô hình ARDL cho thấy có nhiều yếu tố tác động đến phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bao gồm: Yếu tố thuộc mô hình phát triển kinh tế, toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, trình độ phát triển nền kinh tế như lực lượng lao động, khoa học công nghệ, năng lực cạnh tranh. Dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu này, bài viết đã khuyến nghị một số chính sách nhằm phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới.
4414 Nghiên cứu Mô hình Z-Score vào cảnh báo sớm rủi ro hoạt động kinh doanh tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam / Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Thị Quỳnh Trang // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 28-35 .- 658
Trong thời kỳ khủng hoảng toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra, không nằm ngoài những công ty, lĩnh vực hoạt động chịu rủi ro lớn trong hoạt động kinh doanh của mình, đó chính là lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Do các công ty, xí nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 nên hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị bị ảnh hưởng. Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng của họ. Từ đó, dẫn đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua vẫn tăng, không có xu hướng giảm. Để hạn chế và giảm thiểu rủi ro cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, việc đề xuất và áp dụng các mô hình cảnh báo sớm rủi ro là hết sức cần thiết. Bài báo đề xuất giải pháp quản lý rủi ro trên cơ sở cảnh báo sớm bằng cách áp dụng mô hình Z-Score trong nghiên cứu nhằm giúp các ngân hàng thương mại xác định những khách hàng có khả năng gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng và hỗ trợ họ ra quyết định cấp tín dụng.
4415 Các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thu Thuỷ, Nguyễn Văn Tiến // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 36-48 .- 658
Chính sách cổ tức là một trong những yếu tố phản ánh hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp phát triển ổn định và lành mạnh,tạo điều kiện cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Ngành bất động sản gắn liền với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có tốc độ đô thị hóacao như Việt Nam. Trên cơ sở thực trạng các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010-2019 và kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây, bài viết sử dụng mô hình hồi quy FEM và REM nhằm phân tích các nhân tố tác động tới chính sách cổ tức của 34 doanh nghiệp bất động sản, bao gồm: Lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS), Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), Tốc độ tăng trưởng doanh thu (SGR), Quy mô tổng tài sản (SIZE), Tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV), Khả năng thanh toán hiện hành (CR) và Cổ tức của giai đoạn liền trước (PDPS). Kết quả nghiên cứu thực nghiệm được sử dụng nhằm đưa ra các khuyến nghị phù hợp dành cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
4416 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến trả công lao động tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam / Nguyễn Thị Minh Nhàn, Phạm Thị Thanh Hà // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 49-64 .- 658
Nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến trả công lao động (TCLĐ) và phân tích thực trạng sự ảnh hưởng của các yếu tố đó đến trả công lao động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Tác giả tiến hành khảo sát 700 người lao động tại các chi nhánh của BIDV trên cả nước bằng bảng hỏi được thiết kế sẵn. Số phiếu khảo sát thu về sử dụng được là 653 phiếu. Kết hợp với việc xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS và AMOS 21 cho ra kết quả như sau: Các yếu tố hiệu quả hoạt động, năng lực của đội ngũ TCLĐ, chiến lược nguồn nhân lực, pháp luật về TCLĐ và văn hóa tổ chức đều có ảnh hưởng đến trả công lao động nhưng theo các mức độ khác nhau. Trong đó, hiệu quả hoạt động là yếu tố tác động mạnh nhất đến TCLĐ tại BIDV. Từ việc phân tích thực trạng, nghiên cứu đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện các yếu tố tạo điều kiện hoàn thiện TCLĐ tại BIDV.
4417 Tác động của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành tài chính tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Trần Thị Thanh Phương // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 65-79 .- 658
Bài nghiên cứu này với mục tiêu nhằm kiểm định sự tác động của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực (NNL) đến công việc của nhân viên làm việc trong ngành tài chính tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 612 cán bộ nhân viên làm việc tại các tổ chức ngành tài chính tiêu dùng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy tuyến tính được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 06 thành phần của thực tiễn quản trị NNL là; i) Đào tạo; ii) Xác định nhiệm vụ công việc; iii) Đánh giá công việc; iv) Chế độ lương thưởng và phúc lợi; v) Khuyến khích đổi mới; vi) Động viên tác động tích cực đến hiệu quả công việc. Kết quả hồi quy chứng minh rằng “đào tạo” là thành phần tác động mạnh nhất đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành tài chính tiêu dùng. Những phát hiện của bài nghiên cứu giúp nhà quản lý tài chính tiêu dùng có chiến lược phù hợp gia tăng hiệu quả công việc của nhân viên.
4418 Ảnh hưởng của quản trị chéo đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam / Ngô Mỹ Trân, Trần Thị Bạch Yến, Lâm Thị Ngọc Nhung // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 80-93 .- 658
Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích sự ảnh hưởng của quản trị chéo đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Số liệu được thu thập từ 130 công ty niêm yết giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019. Số liệu thống kê cho thấy quản trị chéo khá phổ biến trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả phân tích của mô hình REM cho thấy quản trị chéo ở cấp độ cá nhân thể hiện thông qua chỉ tiêu số lượng vị trí thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) trung bình mà các thành viên HĐQT có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết. Tuy nhiên, hiệu quả tài chính của công ty sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực khi công ty niêm yết có tỷ lệ thành viên HĐQT nắm giữ từ 3 vị trí thành viên HĐQT trở lên ở các công ty khác nhau quá nhiều. Điều này cho thấy bằng chứng thực nghiệm trên thị trường chứng khoán Việt Nam ủng hộ giả thuyết danh tiếng. Việc bổ nhiệm thành viên HĐQT có kiêm nhiệm vị trí thành viên HĐQT ở công ty khác sẽ mang lại lợi ích cho công ty niêm yết vì công ty có thể hưởng lợi từ chuyên môn và các mối quan hệ của các thành viên kiêm nhiệm này. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng cung cấp bằng chứng thống kê ủng hộ giả thuyết bận rộn. Do đó, các công ty niêm yết cần cân nhắc việc bổ nhiệm thêm thành viên HĐQT có quản trị chéo khi HĐQT đã có quá nhiều thành viên nắm giữ từ 3 vị trí thành viên HĐQT trở lên ở các công ty khác nhau.
4419 Nghiên cứu định lượng tác động của quản trị nhân sự số đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp / Kiều Quốc Hoàn // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 94-106 .- 658
Bài viết nghiên cứu định lượng tác động của quản trị nhân sự số đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những cải tiến trong bốn nội dung cơ bản của quản trị nhân sự nhờ chuyển đổi số có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam, cụ thể gồm: (1) cải tiến trong tuyển dụng nhân sự số; (2) cải tiến trong quản trị công việc số; (3) cải tiến trong phát triển nhân sự số và (4) cải tiến trong quản trị năng suất nhân sự số. Trên cơ sở kết quả định lượng, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả triển khai các nội dung quản trị nhân sự số, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay.
4420 Báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam - những điểm tương đồng và khác biệt so với chuẩn mực kế toán công quốc tế / Nguyễn Thị Minh Giang, Hoàng Thị Bích Ngọc // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 154 .- Tr. 107 -116 .- 658
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế nói chung cũng như hội nhập về kế toán nói riêng, các yêu cầu về thông tin kế toán cung cấp phải đảm bảo theo quy định của thông lệ quốc tế là đòi hỏi ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt đối với khu vực công. Trước đòi hỏi này, kế toán khu vực công Việt Nam cũng đã có những sự thay đổi để đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, phù hợp và minh bạch hơn theo yêu cầu hội nhập. Tuy nhiên thực tế vẫn còn những sự khác biệt theo quy định của thông lệ quốc tế. Bài viết nhằm tìm hiểu các quy định hiện hành về lập và trình bày báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam hiện nay, đối chiếu với quy định của chuẩn mực kế toán công quốc tế để trên cơ sở đó tìm ra những điểm tương đồng, những sự khác biệt làm căn cứ để đề xuất các khuyến nghị giúp hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam.





