CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
3871 Mối quan hệ phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường chứng khoán Mỹ : tiếp cận bằng mô hình copula-gjr-garch / Lê Văn Thứ, Trần Ái Kết // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 10-22 .- 332.64

Mô hình hóa sự phụ thuộc giữa các chuỗi lợi suất chứng khoán là một bài toán khó khi mà các chuỗi lợi suất thường có biên độ dao động lớn. Việc xác định mối quan hệ phụ thuộc giữa các chuỗi lợi suất khi giả định các chuỗi lợi suất có phân phối chuẩn thường cho kết quả sai lệch. Hàm phân phối xác suất của các chuỗi lợi suất thường có đuôi dày, phản ánh các cú sốc trên thị trường tài chính. Để khắc phục nhược điểm này, bài viết vận dụng mô hình copula có điều kiện (Copula-GJR-GARCH) để mô hình hóa cấu trúc phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường chứng khoán Mỹ. Kết quả chỉ ra rằng thị trường chứng khoán Mỹ và thị trường chứng khoán Việt Nam có mối quan hệ phụ thuộc nhưng ở mức độ yếu. Hơn nữa, sự phụ thuộc đuôi dưới giữa hai thị trường cũng được tìm thấy nhưng không đáng kể.

3872 Hiệu quả sử dụng chi tiêu công cho hệ thống y tế giai đoạn 2011-2018 : Nghiên cứu trường hợp Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á / Hoàng Long, Mai Lê Thúy Vân // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 23-31 .- 332.1

Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng chi tiêu công của lĩnh vực y tế Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 2011-2018. Từ đó, nhóm tác giả xác định vị trí của Việt Nam trong khu vực và tìm ra các nước chi tiêu hiệu quả hơn để học tập phát triển. Bài viết sử dụng phương pháp ước lượng chỉ số Malmquist và phân tích màng bao dữ liệu (DEA) với bộ dữ liệu gồm 2 yếu tố đầu vào và 4 yếu tố đầu ra. Kết quả thu được dựa trên hiệu quả kỹ thuật cho thấy hầu hết các nước sử dụng nguồn chi tiêu từ Chính phủ là chưa hiệu quả. Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất vào năng suất tổng hợp gia tăng lại đến từ hiệu quả công nghệ. Vì vậy, Việt Nam cần chú trọng hơn vào phát triển các yếu tố ngoài chi tiêu công ( như đổi mới công nghệ, chất lương lao động,…) để gia tăng hiệu quả y tế, bên cạnh giữ vững hiệu quả từ quản lý và phân bổ chi tiêu công.

3873 Tác động của đổi mới sáng tạo đến doanh số và kim ngạch xuất khẩu / Nguyễn Minh Ngọc // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 32-42 .- 658

Mục đích của nghiên cứu này là kiểm chứng tác động của đổi mới quy trình đến đổi mới sản phẩm, doanh số và kim ngạch xuất. Nghiên cứu được thực hiện với mẫu nghiên cứu gồm 201 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả cho thấy đổi mới quy trình có tác động tích cực đến đổi mới sản phẩm. Doanh số/kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có “quy trình mới so với ngành” hoặc “sản phẩm mới so với thị trường” lớn hơn đáng kể so với các doanh nghiệp không có đổi mới sáng tạo. Kết quả nghiên cứu chỉ những khác biệt cao về cấp độ đổi mới sáng tạo tạo ra sự khác biệt đáng kể về kim ngạch xuất khẩu và doanh số.

3874 Đòn bẩy tài chính và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam khi có điều tiết bởi quy mô doanh nghiệp / Lê Hoàng Vinh, Phạm Thu Phương // .- 2022 .- Số 296 .- tR. 43-51 .- 332.1

Bài viết xác định sự điều tiết bởi quy mô doanh nghiệp đối với tác động của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, sử dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống 2 bước dựa trên bộ dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán và các thống kê giao dịch cổ phiếu của 515 doanh nghiệp. Kết quả ước lượng khẳng định rằng đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều đến hiệu quả tài chính, đồng thời quy mô doanh nghiệp góp phần làm tác động này trở nên mạnh mẽ hơn. Kết quả nghiên cứu gợi ý, khuyến nghị các doanh nghiệp chú trọng mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp với đòn bẩy tài chính nhằm đảm bảo mục tiêu hiệu quả tài chính.

3875 Ảnh hưởng của sự bất an trong công việc và thu nhập giảm đến ý định rời bỏ công việc của nhân viên ngành du lịch trong bối cảnh COVID-19 / Lục Mạnh Hiển, Nguyễn Quang Vĩnh // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 52-63 .- 658

Trên cơ sở áp dụng lý thuyết trao đổi xã hội, mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá sự tác động của sự bất án trong công việc và thu nhập giảm đến ý định rời bỏ công việc. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát với 350 nhân viên đang làm việc tại các khách sạn, nhà hàng và điểm du lịch tại Hà Nội thông qua thông qua email và google form. Phương pháp PLS-SEM được sử dụng nhằm đánh giá độ tin cậy, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt của các khái niệm và kiểm định các giả thuyết được đề xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự bất an trong công việc, thu nhập giảm có tác động đến sự căng thẳng trong công việc và ý định rời bỏ công việc, và sự căng thẳng trong công việc cũng tác động đến ý định rời bỏ công việc. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vai trò trung gian của sự căng thẳng trong công việc trong mối quan hệ giữa sự bất an trong công việc, thu nhập giảm và ý định rời bỏ công việc.

3876 Các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ đối với hình ảnh tổng thể điểm đến và ý định tiếp tục thăm viếng của du khách nội địa trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19: Nghiên cứu cho trường hợp tỉnh Bình Định / Trần Thanh Phong, Phan Trọng Nghĩa // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 64-73 .- 658

Nghiên cứu sử dụng lý thuyết hình ảnh điểm đến để chỉ ra các nhân tố chính ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến du lịch trong việc thu hút khách du lịch nội địa. Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) trên một mẫu 438 khách du lịch đã đến tỉnh Bình Định, để kiểm định mối quan hệ giữa các cấu trúc bậc một. Kết quả kiểm định chỉ ra có 7 nhóm nhân tố chính tác động đến hình ảnh tổng thể của điểm đến đó là: (1) cảnh quan; (2) Văn hóa và Ẩm thực; (3) hoạt động giải trí; (4) khả năng tiếp cận điểm đến; (5) môi trường du lịch; (6) giá cả và giá trị; (7) an toàn và an ninh. Kết quả kiểm định cũng chỉ ra mức độ tác động cùng chiều của hình ảnh tổng thể điểm đến với ý định lựa chọn điểm đến du lịch là lớn nhất. Kết quả nghiên cứu cũng đã bổ sung và hoàn thiện cho nhân tố "an toàn và an ninh của điểm đến", có ảnh hưởng mạnh đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch.

3877 Chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp : xu hướng trên thế giới và bài học cho Việt Nam / Bùi Văn Dũng // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 74-83 .- 658

Bài báo thông qua việc nghiên cứu xu hướng chuyển đổi số trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp trên thế giới và đề xuất một số kiến nghị cho Chính phủ và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam trong thực hiện chuyển đổi số đối với lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp trong giai đoạn tới. Kết quả nghiên cứu khẳng định chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp là một quá trình tất yếu, tuy nhiên để chuyển đổi thành công và phát huy được tối đa công dụng của các công cụ kỹ thuật số trong dạy và học nghề, đòi hỏi cần xây dựng kế hoạch và quy trình chuyển đổi số dựa trên các quan điểm hệ thống và tổng hợp. Bên cạnh đó, chuyển đổi số không đơn giản chỉ là việc số hóa các nguồn tài liệu, thông tin liên quan tới giáo dục nghề nghiệp, mà kéo theo đó cần sự thay đổi của toàn bộ hệ thống giáo dục nghề nghiệp, từ khâu quản trị, đầu tư, dạy và học và liên kết, hợp tác với các bên liên quan cũng như thị trường lao động.

3878 Tác động của phát triển công nghệ và cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghệ thông tin / Nguyễn Văn Chiến // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 84-94 .- 332.1

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của phát triển công nghệ, cấu trúc vốn lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Dữ dữ liệu bảng được thu thập từ 26 doanh nghiệp ngành công nghệ thông tin điền hình trên sàn giao dịch chứng khoán giai đoạn 2010 đến 2020, bằng phân tích cả trong ngắn hạn và dài hạn, sử dụng phương pháp phân tích mô men tổng quát hệ thống (Sys GMM) và bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS). Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng phát triển công nghệ không có tác động lên doanh nghiệp trong ngắn hạn, nhưng có tác động rất tích cực lên doanh nghiệp trong dài hạn. Ngoài ra, cấu trúc vốn thiên về sử dụng nợ vay dài hạn có tác động tiêu cực tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, hàm ý rằng các doanh nghiệp ngành công nghệ thông tin cần quản trị tốt các nguồn vốn vay dài hạn thì mới đảm bảo mang lại hiệu quả kinh doanh cao.

3879 Tác động của so sánh xã hội đến lòng tự trọng, sự đố kị và hành vi mua sắm bốc đồng của khách hàng trên các trang mạng xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh / Trần Văn Đạt // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 95-106 .- 658

Mục đích nghiên cứu xác định sự tác động của so sánh xã hội đến lòng tự trọng, sự đố kị và hành vi mua sắm bốc đồng của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên học thuyết về so sánh xã hội, các học thuyết liên quan đến tâm lí, hành vi mua sắm bốc đồng của con người và các số liệu được thu thập trước đây làm cơ sở để xây dựng, phát triển mô hình. Kết quả phân tích bộ dữ liệu với 358 mẫu quan sát là những khách hàng thường xuyên sử dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo, Instagram tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy so sánh xã hội hướng lên tác động đến lòng tự trọng, sự đố kị của khách hàng và các tâm lý tiêu cực này lại tác động đến hành vi mua hàng bốc đồng. Đa phần khi khách hàng thực hiện hành vi mua sắm bốc đồng này chủ yếu là giải quyết việc xoa dịu và bù đắp cho tâm lý tiêu cực. Việc mua sắm này giúp khách hàng thấy mình không thua thiệt với những người khác mà bản thân họ so sánh trên mạng xã hội chứ hoàn toàn họ không tập trung vào sự hữu ích thật sự của sản phẩm này mang lại.

3880 Tác động bất cân xứng của tự do hoá tài chính đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam / Lê Thị Thuý Hằng // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2022 .- Số 1 .- Tr. 5-26 .- 332.1

Bài viết này nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến quý 1 năm 2020. Mô hình NARDL được sử dụng để xem xét tác động bất cân xứng của các biến tăng trưởng cung tiền mở rộng, lãi suất cho vay và tỷ giá USD/VND đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra tác động cân bằng ngắn hạn và dài hạn chung giữa tự do hóa tài chính và tăng trưởng kinh tế. Tác động của tự do hóa tài chính đối với tăng trưởng kinh tế ghi nhận những hiệu ứng tích cực và những hiệu ứng tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế. Các khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam bao gồm tự do hóa tài chính theo lộ trình và chú trọng đến các chính sách điều hành thị trường tài chính được đề xuất.