CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
3861 Kiểm soát đại dịch Covid-19 tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam / Đỗ Đức Quân, Trần Thanh Tùng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 603 .- Tr. 71-73 .- 330

Những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 với kinh tế Việt Nam; Cơ hội của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 dần được khống chế; Một số giải pháp kiểm soát dịch bệnh và tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam giai đoạn tiếp theo.

3862 Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng Quy hoạch không gian biển quốc gia trên quan điểm phát triển kinh tế biển xanh / TS. Tạ Đình Thi, ThS. Nguyễn Ngọc Sơn, ThS. Nguyễn Chí Công // Tài nguyên & Môi trường .- 2022 .- Số 2 .- Tr. 7-9 .- 330

Trình bày những kinh nghiệm của một số quốc gia về xây dựng Quy hoạch không gian biển quốc gia trên quan điểm phát triển kinh tế biển xanh: Ủy ban cấp cao về phát triển bền vững kinh tế đại dương, ủy ban Châu Âu, OECD và Ngân hàng thế giới, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Hàn Quốc, chính quyền bang Victoria, Úc.

3863 Kinh nghiệm của Nhật Bản trong huy động nguồn lực tài chính từ đất đai phục vụ đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị / NCS. Trần Thái Yên, ThS. Phan Thị Thanh Bình, ThS. Nguyễn Thị Thùy Dung // Tài nguyên & Môi trường .- 2022 .- Số 2 .- Tr. 12-13 .- 330

Đề cập đến những kinh nghiệm thực tiễn trong huy động nguồn lực tài chính đất đai phục vụ đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị của Nhật Bản, trên cơ sở đó, đề xuất một số bài học có thể áp dụng cho Việt Nam.

3864 Tác động của thể chế đến nghèo đa chiều ở Việt Nam / Ngô Quốc Dũng // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 2-9 .- 330

Giảm nghèo và tiến tới xoá bỏ tình trạng nghèo là một trong những mục tiêu cuối cùng trong sự phát triển và thịnh vượng của các quốc gia. Các kết quả giảm nghèo đa chiều khác nhau ở các quốc gia khác nhau là do có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đa chiều và kết quả giảm nghèo đa chiều, trong đó có nhân tố thể chế. Trong bài viết này, tác động của thể chế đến nghèo đa chiều được đánh giá thông qua sử dụng dữ liệu đa tầng cấp hộ và cấp tỉnh ở Việt Nam. Sử dụng mô hình hồi quy Probit đa tầng, bài viết chỉ ra được: (i) Tác động của thể chế đến nghèo đa chiều là khác nhau giữa các địa phương; (ii) Thể chế có tác động “ngược” đến giảm nghèo đa chiều ở khu vực thành thị và những địa phương có mức thu nhập cao.

3865 Mối quan hệ phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường chứng khoán Mỹ : tiếp cận bằng mô hình copula-gjr-garch / Lê Văn Thứ, Trần Ái Kết // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 10-22 .- 332.64

Mô hình hóa sự phụ thuộc giữa các chuỗi lợi suất chứng khoán là một bài toán khó khi mà các chuỗi lợi suất thường có biên độ dao động lớn. Việc xác định mối quan hệ phụ thuộc giữa các chuỗi lợi suất khi giả định các chuỗi lợi suất có phân phối chuẩn thường cho kết quả sai lệch. Hàm phân phối xác suất của các chuỗi lợi suất thường có đuôi dày, phản ánh các cú sốc trên thị trường tài chính. Để khắc phục nhược điểm này, bài viết vận dụng mô hình copula có điều kiện (Copula-GJR-GARCH) để mô hình hóa cấu trúc phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường chứng khoán Mỹ. Kết quả chỉ ra rằng thị trường chứng khoán Mỹ và thị trường chứng khoán Việt Nam có mối quan hệ phụ thuộc nhưng ở mức độ yếu. Hơn nữa, sự phụ thuộc đuôi dưới giữa hai thị trường cũng được tìm thấy nhưng không đáng kể.

3866 Hiệu quả sử dụng chi tiêu công cho hệ thống y tế giai đoạn 2011-2018 : Nghiên cứu trường hợp Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á / Hoàng Long, Mai Lê Thúy Vân // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 23-31 .- 332.1

Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng chi tiêu công của lĩnh vực y tế Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 2011-2018. Từ đó, nhóm tác giả xác định vị trí của Việt Nam trong khu vực và tìm ra các nước chi tiêu hiệu quả hơn để học tập phát triển. Bài viết sử dụng phương pháp ước lượng chỉ số Malmquist và phân tích màng bao dữ liệu (DEA) với bộ dữ liệu gồm 2 yếu tố đầu vào và 4 yếu tố đầu ra. Kết quả thu được dựa trên hiệu quả kỹ thuật cho thấy hầu hết các nước sử dụng nguồn chi tiêu từ Chính phủ là chưa hiệu quả. Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất vào năng suất tổng hợp gia tăng lại đến từ hiệu quả công nghệ. Vì vậy, Việt Nam cần chú trọng hơn vào phát triển các yếu tố ngoài chi tiêu công ( như đổi mới công nghệ, chất lương lao động,…) để gia tăng hiệu quả y tế, bên cạnh giữ vững hiệu quả từ quản lý và phân bổ chi tiêu công.

3867 Tác động của đổi mới sáng tạo đến doanh số và kim ngạch xuất khẩu / Nguyễn Minh Ngọc // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 32-42 .- 658

Mục đích của nghiên cứu này là kiểm chứng tác động của đổi mới quy trình đến đổi mới sản phẩm, doanh số và kim ngạch xuất. Nghiên cứu được thực hiện với mẫu nghiên cứu gồm 201 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả cho thấy đổi mới quy trình có tác động tích cực đến đổi mới sản phẩm. Doanh số/kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có “quy trình mới so với ngành” hoặc “sản phẩm mới so với thị trường” lớn hơn đáng kể so với các doanh nghiệp không có đổi mới sáng tạo. Kết quả nghiên cứu chỉ những khác biệt cao về cấp độ đổi mới sáng tạo tạo ra sự khác biệt đáng kể về kim ngạch xuất khẩu và doanh số.

3868 Đòn bẩy tài chính và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam khi có điều tiết bởi quy mô doanh nghiệp / Lê Hoàng Vinh, Phạm Thu Phương // .- 2022 .- Số 296 .- tR. 43-51 .- 332.1

Bài viết xác định sự điều tiết bởi quy mô doanh nghiệp đối với tác động của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, sử dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống 2 bước dựa trên bộ dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán và các thống kê giao dịch cổ phiếu của 515 doanh nghiệp. Kết quả ước lượng khẳng định rằng đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều đến hiệu quả tài chính, đồng thời quy mô doanh nghiệp góp phần làm tác động này trở nên mạnh mẽ hơn. Kết quả nghiên cứu gợi ý, khuyến nghị các doanh nghiệp chú trọng mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp với đòn bẩy tài chính nhằm đảm bảo mục tiêu hiệu quả tài chính.

3869 Ảnh hưởng của sự bất an trong công việc và thu nhập giảm đến ý định rời bỏ công việc của nhân viên ngành du lịch trong bối cảnh COVID-19 / Lục Mạnh Hiển, Nguyễn Quang Vĩnh // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 52-63 .- 658

Trên cơ sở áp dụng lý thuyết trao đổi xã hội, mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá sự tác động của sự bất án trong công việc và thu nhập giảm đến ý định rời bỏ công việc. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát với 350 nhân viên đang làm việc tại các khách sạn, nhà hàng và điểm du lịch tại Hà Nội thông qua thông qua email và google form. Phương pháp PLS-SEM được sử dụng nhằm đánh giá độ tin cậy, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt của các khái niệm và kiểm định các giả thuyết được đề xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự bất an trong công việc, thu nhập giảm có tác động đến sự căng thẳng trong công việc và ý định rời bỏ công việc, và sự căng thẳng trong công việc cũng tác động đến ý định rời bỏ công việc. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vai trò trung gian của sự căng thẳng trong công việc trong mối quan hệ giữa sự bất an trong công việc, thu nhập giảm và ý định rời bỏ công việc.

3870 Các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ đối với hình ảnh tổng thể điểm đến và ý định tiếp tục thăm viếng của du khách nội địa trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19: Nghiên cứu cho trường hợp tỉnh Bình Định / Trần Thanh Phong, Phan Trọng Nghĩa // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 296 .- Tr. 64-73 .- 658

Nghiên cứu sử dụng lý thuyết hình ảnh điểm đến để chỉ ra các nhân tố chính ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến du lịch trong việc thu hút khách du lịch nội địa. Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) trên một mẫu 438 khách du lịch đã đến tỉnh Bình Định, để kiểm định mối quan hệ giữa các cấu trúc bậc một. Kết quả kiểm định chỉ ra có 7 nhóm nhân tố chính tác động đến hình ảnh tổng thể của điểm đến đó là: (1) cảnh quan; (2) Văn hóa và Ẩm thực; (3) hoạt động giải trí; (4) khả năng tiếp cận điểm đến; (5) môi trường du lịch; (6) giá cả và giá trị; (7) an toàn và an ninh. Kết quả kiểm định cũng chỉ ra mức độ tác động cùng chiều của hình ảnh tổng thể điểm đến với ý định lựa chọn điểm đến du lịch là lớn nhất. Kết quả nghiên cứu cũng đã bổ sung và hoàn thiện cho nhân tố "an toàn và an ninh của điểm đến", có ảnh hưởng mạnh đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch.