Sử dụng ngữ nghĩa học quan hệ để mô tả các cơ chế biến đổi nghĩa
Tác giả: Phạm Văn Lam
Số trang:
Tr. 16-23
Số phát hành:
Số 11a(374)
Kiểu tài liệu:
Tạp chí trong nước
Nơi lưu trữ:
CSDL điện tử
Mã phân loại:
400
Ngôn ngữ:
Tiếng Việt
Từ khóa:
Ngữ nghĩa học quan hệ, ẩn dụ, hoán dụ, khái quát hoá, chuyên biệt hoá
Chủ đề:
Ngữ nghĩa học
&
Ẩn dụ
Tóm tắt:
Ngữ nghĩa học lịch đại truyền thống đã mô tả các cơ chế biến đổi nghĩa từ bằng các khái niệm công cụ chủ đạo quen thuộc là ẩn dụ, hoán dụ, khái quát hóa, chuyên biệt hóa, xấu nghĩa, tốt nghĩa, loại suy, mở rộng, thu hẹp,… Do đó, bài viết này đặt ra nhiệm vụ: hệ thống hoá và làm rõ các thuật ngữ mô tả các cơ chế biến đổi nghĩa của ngữ nghĩa học truyền thống; giới thiệu, vận dụng một số thuật ngữ của ngữ nghĩa học quan hệ để giải thích một số hiện tượng biến đổi nghĩa trong từ vựng tiếng Việt.
Tạp chí liên quan
- Khung hoá nỗi đau như một sinh thể: Phân tích ẩn dụ gốc đời sống trong thơ Hàn Mặc Tử bằng mô hình CMA bốn tầng
- Ẩn dụ “mẹ thiên nhiên” trong các diễn ngôn về môi trường và biến đổi khí hậu Anh - Việt
- Hình tượng thực vật trong tục ngữ tiếng Trung Quốc và Tiếng Việt dưới góc nhìn ẩn dụ tri nhận
- Ẩn dụ nghệ thuật và việc kiến tạo mạch lạc trong bút kí “như con sông từ nguồn ra biển” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
- So sánh ẩn dụ tri nhận của từ “水” trong tiếng Hán và “nước” trong tiếng Việt





