Tương quan và khác biệt giữa PEEP theo cắt lớp phổi điện kháng và PEEP giả định theo bảng PEEP thấp/FiO2 trong ARDS ngoại khoa
Tác giả: Nguyễn Việt Minh, Lưu Quang Thuỳ, Trịnh Văn Đồng, Nguyễn Thị HuyềnTóm tắt:
Chọn PEEP trong ARDS cần cân bằng huy động phế nang với hạn chế quá căng phổi. Nghiên cứu tiến cứu so sánh phương pháp trên 42 bệnh nhân ARDS liên quan chấn thương hoặc hậu phẫu, nhằm đánh giá tương quan, độ phù hợp giữa PEEP khuyến nghị theo cắt lớp phổi điện kháng (PEEPEIT) và PEEP giả định theo bảng PEEP thấp/FiO2 của ARDS Network (PEEPbảng). Mỗi bệnh nhân có một cặp giá trị sau lần chuẩn độ EIT đầu tiên. PEEPEIT xác định tại điểm cân bằng giữa xẹp phổi và quá căng phổi; PEEPbảng suy ra từ FiO2 tương ứng. Phân tích gồm Wilcoxon signed-rank, Pearson, Spearman, Bland–Altman. Trung vị PEEPEIT là 9,0 (8,0 – 11,0) cmH2O; PEEPbảng là 10,0 (8,0 – 10,0) cmH2O; p = 0,198. Bland–Altman cho thấy độ lệch trung bình 0,69 cmH2O, giới hạn đồng thuận 95% từ -5,16 đến 6,54 cmH2O. Chênh lệch tuyệt đối ≥ 4 cmH2O gặp ở 26,2% bệnh nhân. PEEPEIT và PEEPbảng có tương quan yếu và khác biệt đáng kể ở mức cá thể, không nên xem là hai giá trị thay thế trực tiếp.
- Các yếu tố liên quan đến nồng độ PCT và CRP huyết tương ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị nội trú
- Kiến thức và thực hành dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và một số yếu tố liên quan của người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế
- Nghiên cứu tổng quan về dự báo đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và độ nặng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với bạch cầu ái toan máu ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có tăng bạch cầu ái toan máu
- Thực trạng kiến thức và thực hành phun khí dung ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch





