51701Nồng độ chất P huyết thanh trong bệnh mày đay mạn tính tự phát
Nghiên cứu cắt ngang trên 120 bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát (CSU) và 30 người khỏe mạnh nhằm xác định mối liên quan giữa nồng độ chất P huyết thanh với mức độ hoạt động bệnh và đáp ứng điều trị bệnh bằng thuốc kháng Histamin H1 thế hệ 2 (sgAH1).
51702Nồng độ cortisol toàn phần huyết thanh ở bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch cổ trướng
Tỷ lệ nhiễm khuẩn ở bệnh nhân xơ gan là 25% đến 35%1. Tỷ lệ tử vong khi nhập viện của bệnh nhân xơ gan có nhiễm khuẩn là khoảng 15%, cao gấp 2 lần so với bệnh nhân xơ gan không bị nhiễm khuẩn. Mục tiêu: Khảo sát nồng độ cortisol toàn phần trong huyết thanh ở bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch cổ ổ bụng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 41 bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch ổ bụng theo phân loại Atlanta 2012 2 tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Trung tâm Tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025. Kết quả: Trung vị nồng độ cortisol toàn phần huyết thanh lúc 8 giờ sáng: 271,50 μg/dL, ở BN xơ gan cổ trướng có nhiễm khuẩn dịch màng bụng. Trung vị của điểm MELD Na trong nhóm nghiên cứu là 21 điểm. Trung vị giá trị bạch cầu máu ngoại vi và giá trị CRPhs của các bệnh nhân nghiên cứu lần lượt là 6,48 G/L và 9,05 mg/L. Phân tích ROC cho chỉ số cortisol 8h nhằm dự báo nhiễm khuẩn dịch màng bụng cho thấy diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,27. Nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ số cortisol không có giá trị chẩn đoán cao trong dự đoán nhiễm trùng dịch ổ bụng ở quần thể nghiên cứu này. Kết luận: Nồng độ Cortisol toàn phần huyết thanh có thể là một chỉ số đánh giá tình trạng suy thượng thận ở bệnh nhân xơ gan nhưng không không có giá trị trong dự báo nhiễm trùng nhiễm dịch ổ bụng ở bệnh nhân xơ gan trong nghiên cứu này.
51703Nồng độ homocystein huyết tương và một số chỉ số huyết học ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện A Thái Nguyên
Xác định nồng độ homocyste và một số chỉ số huyết học bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ. Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ homocystein với một số chỉ số huyết học ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ.
51704Nồng độ Hs-CRP ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối được điều trị lọc máu tại Bệnh viện trung ương Huế
Khảo sát nồng độ Hs-CRP ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối trước chu kỳ lọc máu tại Bệnh viện Trung Ương Huế. Đánh giá mối liên quan giữa nồng độ Hs-CRP với một số giá trị huyết học và sinh hóa trước chu kỳ lọc máu ở đối tượng nghiên cứu.
51705Nồng độ huyết sắc tố hồng cầu lưới và phần trăm hồng cầu nhược sắc trong máu ngoại vi trên bệnh nhân thiếu máu bệnh thận mạn giai đoạn cuối
Xác định giá trị trung bình và vai trò của CHr và % HYPO trong chẩn đoán bệnh nhân thiếu máu do bệnh thận mạn giai đoạn cuối có thiếu sắt.
51706Nồng độ huyết thanh Interleukin-1 beta, Interleukin-6 và Interleukin-8 trong hồng ban đa dạng lan tỏa
Hồng ban đa dạng (erythema multiforme - EM) là một bệnh có thương tổn da - niêm mạc điển hình trên lâm sàng. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh có thể liên quan tới các nhiễm trùng, sự hoạt động của các tế bào miễn dịch và các cytokine. Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang khảo sát nồng độ huyết thanh interleukin-1 beta (IL-1β), IL-6 và IL-8 trong EM có thương tổn da lan tỏa. Kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang được sử dụng để phát hiện đồng thời nhiều cytokine.
51707Nồng độ huyết thanh Interleukin-15 trong hội chứng Stevens-Johnson/hoại tử thượng bì nhiễm độc
Hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN) là những phản ứng nặng, thường do thuốc, có biểu hiện ở da, niêm mạc. Một số yếu tố về gen và miễn dịch được cho là có liên quan tới SJS/TEN, trong đó có interleukin-15. Trong nghiên cứu này, kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang (fluorescence covalent microbead immunosorbent assay, ProcartaPlex Immunoassay Panels kit, Thermo Fisher Scientific, USA) được sử dụng để xác định nồng độ interleukin-15 trong huyết thanh của các bệnh nhân SJS/TEN và phân tích mối tương quan của nó với mức độ bệnh. Sử dụng Mann-Whitney U test để so sánh nồng độ huyết thanh interleukin-15 của hai nhóm, Spearman rank correlation test để đánh giá sự tương quan. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p-value < 0,05.
51708Nồng độ huyết thanh một số cytokine (GM-CSF, IL-10, IL-12 và IL-17a) trong bệnh hồng ban đa dạng lan tỏa
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 33 bệnh nhân được chẩn đoán hồng ban đa dạng (erythema multiforme-EM) có thương tổn da lan tỏa tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 4 năm 2017 tới tháng 8 năm 2019 nhằm khảo sát nồng độ huyết thanh một số cytokine. Sử dụng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang (fluorescence covalent microbead immunosorbent assay) phát hiện đồng thời nhiều cytokine: yếu tố kích thích dòng tế bào hạt-đại thực bào (granulocyte-macrophage colony-stimulating factor, GM-CSF), interleukin(IL)-10 và IL-12 và IL-17A. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của các bệnh nhân EM có thương tổn lan tỏa là 42,2. Có 22 bệnh nhân (66,7%) có thời gian bị bệnh dưới 1 tuần. Có 60,6% bệnh nhân có tiền sử dùng thuốc trước khi bị bệnh. Chỉ có 15,2% bệnh nhân có thương tổn niêm mạc. Ở nhóm EM, nồng độ huyết thanh GM-CSF, IL-12 và IL-17A lần lượt là 5,43±13,22 pg/ml; 0,92±2,19 pg/ml và 0,28±0,29 pg/ml; thấp hơn so với nhóm khỏe mạnh, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 hay p<0,01. Nồng độ huyết thanh GM-CSF, IL-12 và IL- 17A ở nhóm khỏe mạnh lần lượt là 31,99±31,64 pg/ml; 5,47±4,5 pg/ml và 1,46±2,18 pg/ml. Nồng độ huyết thanh IL-10 của nhóm EM là 9,86±15,29 pg/ml, không khác biệt so với nhóm khỏe mạnh (11,84±11,09 pg/ml). Không có mối tương quan giữa nồng độ huyết thanh các cytokine với tuổi của các bệnh nhân EM.
51709Nồng độ Ige huyết thanh toàn phần và đặc hiệu trên bệnh nhân viêm da cơ địa tại bệnh viện da liễu thành phố Hồ Chí Minh
Khảo sát nồng độ IgE huyết thanh toàn phần và đặc hiệu, đồng thời tìm ra mối liên quan giữa chúng với đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân viêm da cơ địa.
51710Nồng độ IL-6 huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có và không có biến chứng thận
Tìm mối tương quan giữa nồng độ IL-6 huyết thanh và một số thông số lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có và không có biến chứng thận.





