Kết quả tìm kiếm
Có 79538 kết quả được tìm thấy
41681Một số yếu tố liên quan đến stress ở nhân viên y tế tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Đại học Y Thái Bình

Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 520 nhân viên y tế làm việc tại 2 bệnh viện Đại học Y (Thái Bình và Hà Nội) từ tháng 6 đến tháng 12/2021. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích một số yếu tố liên quan đến stress của nhân viên y tế. Để xác định các mối liên quan, nhóm nghiên cứu sử dụng thang đo DASS-21 và bộ câu hỏi tự điền khuyết danh.

41682Một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của nhân viên y tế Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2016

Phân tích một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của nhân viên y tế Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2016.

41683Một số yếu tố liên quan đến sự kỳ thị cha mẹ có con mắc rối loạn phổ tự kỷ

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện với mục tiêu phân tích một số yếu tố liên quan đến sự kỳ thị của 846 cha mẹ có con mắc rối loạn phổ tự kỷ tại Bệnh viện Nhi Trung ương và năm trung tâm giáo dục đặc biệt tại Hà Nội trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 11/2023 bằng cách sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn.

41684Một số yếu tố liên quan đến sức khoẻ tâm thần của cán bộ Y tế trong đại dịch COVID-19

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm phân tích một số yếu tố liên quan đến rối loạn sức khỏe tâm thần do đại dịch COVID-19 của cán bộ y tế năm 2021. Nghiên cứu được tiến hành trên 1603 nhân viên y tế tại Hà Nội, Thái Bình, Đà Nẵng và Quảng Nam. Phân tích nhân tố được áp dụng để xác định 3 lĩnh vực: sự ám ảnh, lảng tránh và phản ứng thái quá.

41685Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở trẻ đẻ non dưới 32 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Thiếu máu ở trẻ sơ sinh được định nghĩa khi nồng độ hemoglobin hoặc hematocrit dưới 2 độ lệch chuẩn so với mức trung bình theo tuổi sau sinh của trẻ. Thiếu máu ở trẻ sơ sinh có thể là sinh lý hoặc bệnh lý. Thiếu máu ở trẻ đẻ non thường là thiếu máu bệnh lý. Thiếu máu ở trẻ đẻ non có nhiều yếu tố liên quan. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 130 trẻ sơ sinh non tháng có tuổi thai dưới 32 tuần tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong thời gian từ tháng 09/2023 đến tháng 03/2024.

41686Một số yếu tố liên quan đến thời gian cửa-kim ở bệnh nhân nhồi máu não cấp được điều trị tiêu huyết khối tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nghệ An

Nghiên cứu nhằm mô tả thời gian cửa-kim, là thời gian từ khi bệnh nhân tiếp cận hệ thống y tế đến khi bệnh nhân được dùng thuốc tiêu huyết khối, ở các bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp và một số yếu tố liên quan đến khoảng thời gian này. Đây là nghiên cứu mô tả được thực hiện tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An trên 219 bệnh nhân nhồi máu não cấp được điều trị tiêu huyết khối. Phân tích số liệu bằng cách chia đối tượng nghiên cứu thành 2 nhóm: nhóm có thời gian cửa-kim dưới 60 phút và nhóm có thời gian cửa-kim từ 60 phút trở lên.

41687Một số yếu tố liên quan đến thời gian gây chuyển dạ ở tuổi thai 22-28 tuần được đình chỉ thai nghén sử dụng phương pháp đặt sonde Foley gây chuyển dạ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương

Một số yếu tố liên quan đến thời gian gây chuyển dạ ở tuổi thai 22-28 tuần được đình chỉ thai nghén sử dụng phương pháp đặt sonde Foley gây chuyển dạ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương. Kết quả cho thấy 86,5% thai phụ đều nằm trong độ tuổi sinh đẻ, 31,5% thai phụ ở Hà Nội, 40,5% thai phụ có nghề nghiệp là cán bộ, công chức, 79,3% thai phụ chưa nạo hút thai bao giờ. Thời gian từ khi khởi phát chuyển dạ đến khi cổ tử cung mở hết bằng đặt bóng ở nhóm đặt misoprostol đơn thuần ngắn hơn nhóm chỉ truyền oxytoxin và nhóm vừa đặt vừa truyền.

41688Một số yếu tố liên quan đến thời gian khởi phát - nhập viện ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp

Nghiên cứu nhằm mô tả một số yếu tố liên quan đến thời gian khởi phát - nhập viện (từ lúc bệnh nhân xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi bệnh nhân nhập viện) ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp. Đây là nghiên cứu cắt ngang tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Đa khoa Hà Đông trên 214 bệnh nhân trong thời gian từ 7/2021 - 8/2022 được chẩn đoán đột quỵ nhồi máu não cấp.

41689Một số yếu tố liên quan đến thực trạng sâu răng của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Y Hà Nội năm học 2020-2021

Nhằm mô tả một số yếu tố liên quan đến thực trạng sâu răng của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Y Hà Nội năm học 2020-2021. Với mục tiêu sinh viên trường Y sẽ trở thành những bác sĩ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có một thể lực khỏe mạnh, trí tuệ sáng suốt thì công tác đào tạo cũng như giáo dục sức khỏe nói chung và sức khỏe răng miệng nói riêng là một yêu cầu cần thiết đối với trường Đại học Y Hà Nội. Các yếu tố được tìm thấy làm tăng nguy cơ sâu răng của đối tượng nghiên cứu bao gồm thói quen chăm sóc vệ sinh răng miệng: thời gian chải răng dưới 2 phút mỗi lần, không súc miệng bằng dung dịch nước súc miệng, không có thói quen thăm khám nha khoa, không lấy cao răng định kỳ, thói quen ăn vặt. Tình trạng chen chúc răng cũng được tìm thấy là yếu tố làm tăng nguy cơ sâu răng.

41690Một số yếu tố liên quan đến thực trạng sâu răng ở người đến khám sức khỏe tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016

Bài viết đưa ra một số yếu tố liên quan đến thực trạng sâu răng ở người đến khám sức khỏe tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016. Nhóm vệ sinh răng miệng tốt tỷ lệ sâu răng (50%) thấp hơn nhóm vệ sinh răng miệng trung bình (64,6%) và vệ sinh răng miệng kém (80,4%). Người dùng chỉ tơ nguy cơ mắc sâu răng chỉ bằng 0,7 lần so với người không dùng chỉ tơ. Người chải răng dưới 2 lần/ngày có nguy cơ sâu răng cao gấp 1,4 lần so với người chải răng trên 2 lần/ngày.