Lý thuyết tâm lý học bao gồm nhiều lý thuyết, trong đó có ba lý thuyết thường xuyên được sử dụng trong các nghiên cứu kế toán quản trị, cụ thể: (1) Lý thuyết về động lực; (2) Lý thuyết tâm lý xã hội và (3) Lý thuyết tâm lý nhận thức. Trong khi lý thuyết về động lực, lý thuyết tâm lý xã hội và các ứng dụng của chúng trong nghiên cứu kế toán quản trị đã được trình bày trong bài viết trước, thì bài viết này tập trung giới thiệu về lý thuyết tâm lý nhận thức và ứng dụng của nó trong các nghiên cứu kế toán quản trị. Nhìn chung, lý thuyết này được dùng để giải thích cho việc nhà quản trị làm các nào để đưa ra những đánh giá và quyết định của họ, cũng như chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng tới biến động trong việc đánh giá và ra quyết định của họ.
Chuẩn mực Kế toán quốc tế IAS 36 - Suy giảm giá trị tài sản (IAS 36) được ban hành bởi Ủy ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB) năm 1998 có ý nghĩa rất lớn đảm bảo sự chính xác của các thông tin trên báo cáo tài chính. Trong khi đó, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) chưa có quy định liên quan đến vấn đề này cũng như chưa có quy định cụ thể và thống nhất quản lý, trình bày trên báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp, điều này đã gây cản trở quá trình toàn cầu hóa kế toán cũng như cản trở sự hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Bài viết này đề cập một số nội dung của IAS 36, thuận lợi và khó khăn khi vận dụng IAS 36 tại Việt Nam và đưa ra một số giải pháp cho việc xây dựng và vận dụng chuẩn mực này tại Việt Nam.
Ngành Dược là một ngành đặc thù và có vai trò quan trọng không chỉ trong phát triển kinh tế mà còn đem lại những lợi ích lớn cho sức khỏe con người. Từ đó, hỗ trợ cho các ngành, lĩnh vực khác thực hiện tốt sứ mệnh của mình. Tuy nhiên, sau ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, cùng sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành Dược nói chung và các công ty cổ phần dược niêm yết ở Việt Nam nói riêng có nhiều biến động thăng trầm. Bài viết đi sâu tìm hiểu về tình hình hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành dược niêm yết trong giai đoạn 2017-2021, từ đó gợi ý một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp (DN) ngành giao thông vận tải ở Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập 25 DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2021 và phương pháp hồi quy dành cho dữ liệu bảng. Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với các DN trong ngành, đòn bẩy tài chính và hoạt động đầu tư có mối quan hệ nghịch chiều. Bên cạnh đó, dòng tiền của doanh nghiệp và cơ hội tăng trưởng có tác động thuận chiều lên hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp trong ngành. Bài nghiên cứu cũng đề xuất kiến nghị dành cho các nhà quản trị của các doanh nghiệp liên quan về việc sử dụng vốn trong hoạt động đầu tư.
Nghiên cứu này phân tích tác động của Tính thanh khoản đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp bằng cách đánh giá định lượng với 73 bài báo trên toàn thế giới và 230 nghiên cứu. Nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra sự ảnh hưởng của các mối quan hệ giữa các yếu tố thanh khoản khác nhau, bao gồm Tỷ số thanh toán, Tỷ số thanh toán nhanh, Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, áp dụng cả mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên. Kết quả cho thấy rằng nghiên cứu đã phân tích các tác động của các biến thanh khoản khác nhau đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tìm ra các yếu tố có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ bằng cách thực hiện hồi quy phân tích tổng hợp.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện để xem xét, đánh giá, lượng hóa mức độ tác động của một số cú sốc đối với thị trường và diễn biến thị trường sau các đợt thông báo điều chỉnh lãi suất của NHNN. Kết quả phân tích định lượng bằng phương pháp nghiên cứu sự kiện và mô hình ARIMA cho thấy các thông báo về thay đổi lãi suất điều hành của NHNN có tác động tới TTCK mạnh mẽ vào 1 ngày sau khi có thông báo, sau đó các tác động có thể tăng dần hoặc giảm dần phụ thuộc vào bối cảnh của sự điều chỉnh lãi suất.
Tác giả phân tích, làm rõ kinh nghiệm phát triển dịch vụ số hóa năng lực quản trị nguồn nhân lực cho doanh nghiệp trong nền kinh tế số tại một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng nền kinh tế số nói chung và phát triển dịch vụ số hóa năng lực quản trị nguồn nhân lực cho doanh nghiệp tư nhân nói riêng.
Gian lận thương mại đang trở thành một hiện tượng trong thực tiễn kinh doanh quốc tế bóp mếu cấu trúc của luồng thương mại quốc tế được thiết lập bởi các quốc gia. Hành vi gian lận thương mại phổ biến nhất chính là gian lận xuất xứ, theo đó các bên liên quan có những hành vi làm giả hoặc khai gian hoặc chuyển tải hàng hóa bất hợp pháp để dẫn đến nhầm lẫn hoặc nhận thức sai về xuất xứ nhằm hưởng lợi từ các quy chế thương mại ưu đãi mà nước nhập khẩu dành cho đối tác của mình trongkhuoon khổ các hiệp định thương mại tự do. Gian lận thương mại của một số doanh nghiệp nếu không được kiểm soát có thể ảnh hưởng đến điều kiện tiếp cận thị trường của hàng hóa xuất khẩu của quốc gia liên quan, qua đó làm gia tăng chi phí sản xuất, thời gian cho các doanh nghiệp ngay tình khi mong muốn gia nhập vào thị trường đó.
Bài viết phân tích quan hệ giữa pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật cạnh tranh từ kinh nghiệm của Úc trong mối quan hệ đối sách với Việt Nam. Bài viết giới hạn nghiên cứu về mối quan hệ giữa các bên trong hệ thống nhượng quyền, dựa trên những thỏa thuận nhượng quyền có tác động gây hạn chế cạnh tranh giữa các bên trong cùng hệ thống nhượng quyền. Từ những kinh nghiệm của Úc, bài viết khuyến nghị một số giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam.
Bài viết tập trung phân tích các cam kết về môi trường trong Hiệp định EVFTA, các yêu cầu đặt ra đối với việc thực thi cam kết này, cũng như làm rõ một số tác động của các cam kết về môi trường trong Hiệp định EVFTA đối với doanh nghiệp Việt Nam; từ đó đưa ra một số định hướng hoàn thiện về mặt chính sách, pháp luật trên cơ sở đáp ứng được các yêu cầu thực thi cam kết bảo vệ môi trường trong Hiệp định EVFTA.