CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Vai trò của Fintech với hệ thống tài chính ngân hàng tại Việt Nam / Trần Thị Nguyệt Hằng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 635 .- Tr. 49 - 51 .- 332.04
Đánh giá vai trò và thực trạng của việc áp dụng Fintech vào lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đồng thời đưa ra các hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng sản phẩm Fintech trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng tại Việt Nam trong thời gian tới.
2 Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng tới chính sách tài trợ trong doanh nghiệp / Phạm Ngọc Hải // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 635 .- Tr. 52 - 53 .- 658
Chính sách tài trợ là một bộ phận của chính sách tài chính trong doanh nghiệp, chi phối và định hướng việc huy động các nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu đầu tư và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn. Chính sách tài trợ liên quan đến việc lựa chọn các quyết định: doanh nghiệp nên huy động bao nhiêu vốn chủ sở hữu và bao nhiêu nợ vay; cơ cấu các nguồn tài trợ huy động nên như thế nào; khi nào thì huy động các nguồn tài trợ đó; các công cụ hay cách thức huy động các nguồn tài trợ như thế nào; mô hình tài trợ nhu cầu sử dụng vốn ra sao. Vì vậy việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách tài trợ tới doanh nghiệp là một trong những vấn đề quan trọng giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng quan về vấn đề này khi doanh nghiệp muốn thực hiện một chính sách tài trợ phù hợp trong cả ngắn hạn và dài hạn.
3 Ảnh hưởng của các nhân tố thuộc tiền đề TPB tới ý dụng sản phẩm gửi tiết kiệm trực tuyến của khách hàng gen Z / Nguyễn Thị Dục, Nguyễn Thúy Huyền, Trịnh Phương Ly // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 635 .- Tr. 54 - 56 .- 658
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của mô hình TPB (lý thuyết hành vi có kế hoạch) tới ý định sử dụng sản phẩm (SP) gửi tiết kiệm trực tuyến (TKTT) của khách hàng (KH) gen Z. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 245 KH gen Z tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của cả nhân tố thuộc tiền để TPB bao gồm: thái độ đối với hành vi sử dụng sản phẩm gửi tiết kiệm trực tuyến, chuẩn mực chủ quan, nhận thức về kiểm soát hành vi sử dụng SP gửi TKTT tới ý định sử dụng sản phẩm gửi tiết kiệm trực tuyến của khách hàng gen Z. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cho các ngân hàng (NH) nâng cao khả năng huy động vốn từ KH gen Z.
4 Nghiên cứu sự sẵn sàng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sản xuất ở Việt Nam / Nguyễn Thị Mai Chi, Nguyễn Thị Linh Chi, Phạm Minh Hồng Phạm Thị Hằng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 635 .- Tr. 57 - 59 .- 657
Đề cập đến những vấn đề liên quan trọng công tác chuẩn bị, áp dụng chuyển đổi việc lập báo cáo tài chính theo IFRS. Từ đó, nhóm tác giả tìm hiểu mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sản xuất ở Việt Nam, qua đấy đề xuất một số giải pháp, định hướng cho quá trình chuyển đổi áp dụng IFRS trong thời gian tới.
5 Chuyển đổi số trong công tác kế toán / Bạch Thị Huyên // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 635 .- Tr. 64 - 66 .- 657
Chuyển đổi số trong lĩnh vực kế toán hiện nay là xu hướng tất yếu mà các doanh nghiệp phải để theo kịp sự phát triển của thời đại, đó là thời đại của công nghệ 4.0 đã và đang đặt ra cho nghiệp Việt nam nói chung và công tác kế toán nói riêng nhiều thách thức cần phải được quan tâm nghiêm túc và đúng mức, giúp cho công tác quản lý kinh tế trong các doanh nghiệp được kịp chóng và hiệu quả. Với lý do đó, thì việc chuyển đổi số trong công tác kế toán ở Việt Nam trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu như hiện nay, là cần thiết và có tính thời sự cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.
6 Bàn về pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam / Nguyễn Thị Chính // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 635 .- Tr. 77 - 79 .- 340
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách xã hội có phạm vi điều chỉnh rộng lớn và phụ thuộc vào thể chế chính trị của từng quốc gia, thậm chí ngay trong một quốc gia nhưng lại phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, cho nên chính sách của Nhà nước về BHXH và liên quan đến BHXH cũng là nền tảng, là cơ sở hình thành pháp luật về BHXH. Pháp luật về BHXH ở những nước khác nhau sẽ có những điểm rất khác nhau. Ngay ở cả một nước, pháp luật về BHXH qua từng thời kỳ cũng có nhiều điểm khác nhau do chính sách của Nhà nước chi phối. Do đó, bài viết sẽ bàn về pháp luật về BHXH ở Việt Nam giai đoạn 1975 - 1994 và giai đoạn 1995 đến nay.
7 Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương qua hệ thống luật pháp quốc tế và Việt Nam / Nguyễn Thị Thanh Hương // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 635 .- Tr. 94 - 96 .- 340.01422
Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương đã được xác định trong các luật nhân quyền quốc tế và hệ thống Việt Nam. Bài viết nhằm hệ thống và làm rõ các quy định cụ thể bảo vệ 06 nhóm xã dễ bị tổn nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người dân tộc thiểu số trong hệ thống nhân quyền quốc tế và hệ thống pháp luật của Việt Nam.
8 Ảnh hưởng của rủi ro địa chính trị đến rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại / Nguyễn Thành Công, Ngô Hồng Hạnh // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2023 .- Số 3 .- Tr. 40-55 .- 332.12
Bài viết phân tích tác động của rủi ro địa chính trị đến rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rủi ro địa chính trị làm gia tăng rủi ro phá sản của ngân hàng. Trong đó các sự kiện địa chính trị gây ra tác động tiêu cực lớn hơn đến rủi ro ngân hàng so với các mối đe dọa địa chính trị. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phát hiện ra rằng rủi ro địa chính trị làm tăng rủi ro phá sản ngân hàng thương mại thông qua việc làm giảm lợi nhuận và làm tăng biến động lợi nhuận của ngân hàng.
9 Nghị định mới về đăng ký biện pháp bảo đảm nhìn từ thực tiễn / Bùi Đức Giang // Ngân hàng .- 2023 .- Số 11 .- Tr. 3-9 .- 340
Nghị định số 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm đã được Chính phủ ban hành vào ngày 30/11/2022 (Nghị định số 99) và có hiệu lực từ ngày 15/01/2023. Nghị định này thay thế Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm. Nghị định số 99 có một số điểm làm rõ đáng ghi nhận, song vẫn còn có các hạn chế và khoảng trống nhất định.
10 Một số giải pháp phát triển hạ tầng hướng đến tăng trưởng bền vững trong bối cảnh “tốt nghiệp” ODA của Việt Nam / Lương Hoàng Phương Thảo, Ngô Hồng Hạnh // Ngân hàng .- 2023 .- Số 11 .- Tr. 3-9 .- 330
Hiện nay, Việt Nam đang chứng kiến sự sụt giảm đáng kể trong nhận viện trợ tài chính do tốc độ tăng trưởng kinh tế. Việc "tốt nghiệp" ODA có nghĩa là nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với những thách thức nhất định, chẳng hạn như áp lực gia tăng của các khoản nợ nước ngoài; tăng tác động đến phát triển xã hội. Tuy nhiên, "tốt nghiệp" ODA đã mang lại những cơ hội nhất định cũng như tăng cường tính độc lập của Việt Nam trong huy động vốn, phát triển kinh tế. Nghiên cứu này đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện tình hình kinh tế của Việt Nam, qua đó góp phần khắc phục những khó khăn trong giai đoạn “tốt nghiệp" ODA.