Bài viết này phân tích vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong giai đoạn quả độ lên chủ nghĩa xã hội và đề xuất một số quan điểm để nâng cao vai trò của kinh tế tư nhân.
Bài viết này đề xuất cách tiếp cận quản lý vốn nhà nước thay cho quản lý trực tiếp đối với doanh nghiệp nhằm giải phóng các doanh nghiệp có vốn nhà nước ra khỏi các ràng buộc của quản lý hành chính, can thiệp trong khi vẫn bảo đảm các quyền quan trọng, chính yếu của chủ sở hữu.
Bài viết sử dụng phương pháp GARCH để kiểm định độ nhạy cảm tỷ giá của 2166 công ty tại sáu quốc gia Đông Nam Á gồm Philippin, Xingapo, Thái Lan và Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2020. Kết quả cho thấy, tồn tại độ nhạy cảm tỷ giá cũng như yếu tố bất cân xứng trong độ nhạy cảm tỷ giá. Đồng thời nghiên cứu cũng thực hiện hồi quy OLS và logistic cho dữ liệu bảng để xác định những nhân tố thuộc về đặc điểm công ty như đặc điểm kinh doanh quốc tế, giá trị thị trường công ty, tỷ số nợ, tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách, mức độ thanh khoản và khả năng thanh toán có tác động đến độ nhạy cảm tỷ giá.
Bài viết này đánh giá chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty đại chúng chưa niêm yết ở Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng. Chất lượng công bố thông tin được xác định bằng cách so sánh mức độ công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tùy ý của công ty đại chúng chưa niêm yết với giá trị trung bình ngành tương ứng. Kết quả cho thấy có sự khác biệt về chất lượng công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tùy ý trên báo cáo tài chính bản niên với báo cáo tài chính quý II và các nhân tố ảnh hưởng. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm cải thiện việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty đại chúng chưa niêm yết.
Bài viết này nghiên cứu tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Số liệu nghiên cứu sử dụng là số liệu thứ cấp dưới dạng được thu thập từ các báo cáo tài chính hàng năm của 742 doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trên hai sàn chứng khoản HOSE và HNX từ năm 2007 đến năm 2020. Kết quả cho thấy, cấu trúc tài chính đo lường bằng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hệ số nợ trên tổng tài sản. Ngoài ra, trong nghiên cứu chưa tìm được bằng chứng tác động của tốc độ tăng trưởng kinh mô tài sản của doanh nghiệp, tỷ lệ lạm phát và khả năng thanh khoản đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp.
Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quan trị chất lượng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng phương pháp hồi quy cấu trúc PLS – SEM dựa trên dữ liệu khảo sát bốn ngân hàng có vốn sở hữu nhà nước vào năm 2022 với 357 câu trả lời hợp lệ. Mô hình nghiên cứu được đề xuất dựa trên các nghiên cứu trước đó với gia đình có tám yếu tố ảnh hưởng đến quán trị chất lượng tại các ngân hàng thương mại gồm: yếu tố lãnh đạo, đổi sảnh chuẩn (benchmarking), hệ thống thông tin và phân tích. văn hóa dịch vụ, nguồn nhân lực, định hướng khách hàng, công nghệ và hoạch định chiến lược. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong bối cảnh các ngân hàng thương mại Việt Nam có vốn nhà nước, chỉ có ba yếu tố quan trọng và có tác động tích cực benchmarking lãnh đạo và văn hóa dịch vụ. Do đó, việc tăng cường ba yếu tố nhận điện sẽ giúp các ngàn hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực quản trị chất lượng, từ để nàng cao lợi thế cạnh tranh hưởng tới phát triển bền vững.
Nghiên cứu trên 38 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2019, sử dụng phương pháp phân tích định lượng nâng cao và kiểm tra tính vững của mô hình, nghiên cứu này khẳng định rằng, phát triển tài chính có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, nhưng không tồn tại tác động phi tuyến của mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Tương tự, tồn tại tác động tích cực của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu cho rằng, mức độ thương mại, tiếp cận công nghệ, tỷ giá hối đoái không có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Kinh tế thế giới đang chứng kiến sự chuyển dịch đầu tư, sản xuất. Dòng vốn FDI có xu hướng tập trung đầu tư vào các nền kinh tế phát triển, đối với các nước đang phát triển, khu vực Châu Á là điểm đến hấp dẫn. Các tập đoàn xuyên quốc gia đang chuyển dịch, đa dạng hóa sản xuất theo hướng hồi hương về nước hoặc chuyển sang nước khác, Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế và được đánh giá là có thể trở thành điểm đến hấp dẫn cho chuyển dịch đầu tư, sản xuất. Tuy nhiên, Việt Nam đang đối diện với các thách thức về tình hấp dẫn, theo kịp so với nhiều quốc gia khác và ổn định trong môi trường kinh doanh (thể che, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực) để cạnh tranh thu hút đầu tư trước làn sóng dịch chuyển đầu tư, sản xuất trên thế giới.
Bài viết nghiên cứu tác động của ràng buộc tài sản đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua phương pháp hồi quy FGLS với mẫu quan sát bao gồm 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2022. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc ràng buộc tài sản đã làm giảm đi rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Hơn thế nữa, những ngân hàng có mức độ kỷ luật thị trường cao hay những ngân hàng có thanh khoản lớn thì việc ràng buộc tài sản càng làm giảm đi các rủi ro.
Khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo là chìa khóa để các quốc gia phát triển kinh tế. Việc đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia đang được thực hiện có hiệu quả. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước chưa được phép đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo bởi tính tin cậy của loại hình doanh nghiệp này chưa được thực chứng và được xếp vào lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, tiềm ẩn nhiều rủi ro và chưa có một bộ chỉ tiêu nào cho việc đánh giá hiệu quả của loại hình doanh nghiệp này được ban hành. Nghiên cứu này được thực hiện qua việc đánh giá các doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo và kinh nghiệm quốc tế để đưa ra các chỉ tiêu đo lường hiệu quả đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo ở Việt Nam.