CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Tác động của tài chính số đến ổn định tài chính quốc gia - Nghiên cứu thực nghiệm tại các nước ASEAN + 3 / Trần Thị Xuân Anh, Dương Ngân Hà // .- 2023 .- Số 20 - Tháng 10 .- Tr. 34-42 .- 332.1
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tài chính số có tác động tiêu cực tới chỉ số căng thẳng tài chính của các quốc gia trong khu vực ASEAN+3. Nói cách khác, tài chính số có thể thúc đẩy ổn định tài chính thông qua việc giảm căng thẳng tài chính. Bởi vậy, để thúc đẩy ổn định tài chính, mỗi quốc gia cần cải thiện cơ sở hạ tầng kĩ thuật số như tăng số lượng ATM, tăng số lượng thuê bao di động (đặc biệt là các thuê bao di động sử dụng điện thoại thông minh), tăng số lượng máy chủ Internet và khuyến khích người dân sử dụng Internet.
2 Kinh nghiệm quốc tế về công cụ bộ đệm vốn phản chu kì và bài học cho Việt Nam / Lê Văn Luyện, Phạm Phương Anh // .- 2023 .- Số 20 - Tháng 10 .- Tr. 43-48 .- 332.12
Bài viết phân tích kinh nghiệm của nhóm các quốc gia theo Cơ chế Giám sát duy nhất (Single Supervisory Mechanism - SSM) dựa trên các quy định về tỉ lệ Công cụ bộ đệm vốn phản chu kì (CCyB) áp dụng cho hệ thống của các ngân hàng thương mại. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đưa ra các bài học kinh nghiệm về xây dựng và triển khai CCyB đối với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
3 Forum necessitatis: Một công cụ bảo vệ quyền con người trong tư pháp quốc tế / Ngô Quốc Chiến // .- 2023 .- Số 10 (170) - Tháng 10 .- Tr. 63-76 .- 340
Bài viết chứng minh bảo vệ quyền con người không chỉ là nhiệm vụ riêng của luật nhân quyền quốc tế, mà còn của cả các ngành luật khác, trong đó có tư pháp quốc tế. Bài viết phân tích học thuyết và quy định về forum necessitatis như một công cụ mà tư pháp quốc tế có thể sử dụng để bảo vệ quyền con người.
4 Giải quyết tranh chấp môi trường ngoài tòa án theo pháp luật Nhật Bản và Việt Nam / Vũ Thị Duyên Thủy, Lê Mạnh Hùng // .- 2023 .- Số 10 (170) - Tháng 10 .- Tr. 77-92 .- 340
Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả phân tích tổng quan về hệ thống pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường ngoài tòa án tại Nhật Bản và Việt Nam; đưa ra những nhận định, đánh giá và đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam tù kinh nghiệm của Nhật Bản, nhằm giải quyết tốt hơn các tranh chấp môi trường tại Việt Nam trong thời gian tới.
5 Bàn về khía cạnh xác định pháp luật áp dụng đối với hợp đồng thông minh theo tư pháp quốc tế một số quốc gia / Nguyễn Lê Hoài, Nguyễn Phan Vân Anh, Lê Thanh Huyền // .- 2023 .- Số 10 (170) - Tháng 10 .- Tr. 93-105 .- 340
Hợp đồng thông minh (smart contracts) được sử dụng ngày càng phổ biến, đặc biệt là đối với những giao dịch thương mại xuyên biên giới dẫn đến những thách thức đối với các quốc gia. Bài viết này sẽ phân tích các quy định của một số quốc gia liên quan đến việc xác định pháp luật áp dụng đối với hợp đồng thông minh có yếu tố quốc tế. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số gợi mở cho pháp luật Việt Nam.
6 Chiến lược robot mới của Nhật Bản / Phạm Thu Thủy // .- 2023 .- Số 646 .- Tr. 10-12 .- 629.8 923
Chiến lược robot mới được Chính phủ Nhật Bản đưa ra năm 2015 với tư cách là công cụ hiện thực “cuộc cách mạng công nghiệp do robot thúc đẩy” đã được đề cập trước đó trong “Chiến lược hồi sinh Bản” năm 2014. Mục tiêu chiến lược robot mới hướng đến là đưa Nhật Bản trở thành quốc gia hàng sáng tạo và ứng dụng robot. Bài viết phân tích khái quát bối cảnh hình thành chiến lược này, đồng ra những đánh giá về quá trình triển khai chiến lược trong thời gian vừa qua
7 Điều kiện thành lập và hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non : một số bất cập và kiến nghị / Lê Thị Thúy Hương, Lê Nhật Bảo // .- 2023 .- Số 10 (170) - Tháng 10 .- Tr. 107-114 .- 340
Luật Giáo dục năm 2019 ra đời thay thế cho Luật Giáo dục năm 2005 với nhiều thay đổi đáng ghi nhận, một trong số đó là các quy định về điều kiện thành lập trường, điều kiện được phép hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Bên cạnh những điểm mới đáng ghi nhận thì vấn đề về điều kiện thành lập, hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non vẫn còn đang tồn tại nhiều hạn chế, gây cản trở quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư. Bài viết trình bày một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
8 Liên minh AUKUS và tác động đối với an ninh Đông Á / Nguyễn Ngọc Nghiệp // .- 2023 .- Số 646 .- Tr. 16-18 .- 327
Ngày 15 tháng 9 năm 2021, ba nước Úc, Anh và Mỹ đã đưa ra tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ hợp tác an ninh ba bên có tên là AUKUS. Nội dung hợp tác, bao gồm hội nhập sâu rộng hơn về khoa học công nghệ, chia sẻ thông tin, trang bị cho lực lượng hải quân Úc công nghệ chế tạo tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Đây là kế hoạch của 3 nước để tăng cường sức mạnh của liên minh trên khắp Ấn Độ Dương. Thái Bình Dương nhằm đáp trả sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến nguyên nhân ra đời, những nội dung chính ba bên tiến hành hợp tác đồng thời đánh giá tác động mà AUKUS có thể mang lại đối với an ninh khu vực Đông Á.
9 Hệ thống thu phí rác thải dựa trên khối lượng của Hàn Quốc : một số thách thức và giải pháp / Lương Hồng Hạnh // .- 2023 .- Số 10 .- Tr. 19-21 .- 363
Ra đời vào năm 1995, Hệ thống thu phí rác thải dựa trên khối lượng của Hàn Quốc được coi là một biện pháp mang tính cách mạng để giải quyết các vấn đề nghiêm trọng về rác thải, với hai mục tiêu chính là áp đặt chi phí xử lý rác lên người gây ô nhiễm và cung cấp dịch vụ thu gom miễn phí đối với rác tái chế. Trong quá trình chuẩn bị, áp dụng hệ thống này, Hàn Quốc đã gặp không ít thách thức, tuy nhiên, họ đã đưa ra được những giải pháp thích hợp và trở thành một ví dụ điển hình về việc áp dụng thành công chính sách môi trường dựa trên thị trường. Do vậy, nghiên cứu chủ đề này sẽ mang lại những kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam trong vấn đề quản lý rác thải.
10 Hoạt động thương mại điện tử ở Nhật Bản trong và sau đại dịch COVID-19 / Trần Ngọc Nhật, Nguyễn Hoàng Mai // .- 2023 .- Số 646 .- Tr. 22-24 .- 381.142
Trước đây, lĩnh vực bán lẻ trực tuyến của Nhật Bản phát triển chậm do người tiêu dùng lớn tuổi không thích công nghệ kỹ thuật số. Đại dịch COVID-19 bùng phát đã dẫn đến những thay đổi trong mô hình tiêu dùng và hỗ trợ của chính phủ cho số hóa, tác động đến việc tăng doanh số bán hàng trực tuyến. Theo các báo cáo hiện tại, thị trường thương mại điện tử của Nhật Bản đạt 99,6 tỷ USD vào năm 2020 và dự đoán sẽ đạt 151 tỷ USD vào năm 2025 khi quốc gia này thực hiện quá trình chuyển đổi từ các cửa hàng bán lẻ truyền thống sang các cửa hàng bán hàng trực tuyến. Bài viết tập trung vào hai vấn đề chính là ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đối với thương mại điện tử và xu hướng phát triển trong thời gian tới.