Nghiên cứu sử dụng mô hình Pooled OLS, FEM, REM sau đó lựa chọn mô hình phù hợp là REM. Bốn biến gồm quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều đến tỉ lệ nợ xấu, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỉ lệ dự phòng rủi ro tón dụng và tỉ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác động cùng chiều vởi tỉ lệ nợ xấu; trong đó dự phòng rủi ro tín dụng là nhân tố có tác động nhiều nhất đến tỉ lệ nợ xấu và quy mô ngân hàng là nhân tố có tác động thấp nhất.
Bài viết này tập trung phân tích thực trạng chính sách tài chính phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện khung khổ chính sách nói chung và chính sách tài chính nói riêng đối với doanh nghiệp khởi nghiệp.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 715 người tiêu dùng Việt Nam. Các phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA), cùng với phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling - SEM) được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có bốn biến số ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi là: Kì vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, động lực thụ hưởng và tri thức của khách hàng. Có hai yếu tố tác động tiêu cực đến ý định hành vi là yếu tố kì vọng hiệu quả và các điều kiện thuận lợi. Hai biến số ảnh hưởng tích cực đến hành vi sử dụng là ý định hành vi và các điều kiện thuận lợi. Dựa trên kết quả đạt được, tác giả nêu một số khuyến nghị chính sách nhằm gia tăng ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số ở Việt Nam.
Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nêu rõ: Tài chính - ngân hàng là một trong những lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số trước. Với bối cảnh chung như vậy, nhiều vấn đề đã và đang đặt ra có liên quan đến chuyển đổi số mà hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) phải thực hiện theo lộ trình và xu thế phát triển. Bài viết đề cập đến chuyển đổi số trong hoạt động QTDND.
Bài viết này phân tích những bất cập trong một số điều khoản của URDG 758 2010 nhằm lưu ý người sử dụng bảo lãnh và hướng tới các bổ sung chỉnh sửa cần thiết cho một URDG trong tương lai.
Trên cơ sở phân tích kết quả cho vay ưu đãi của hệ thống ngân hàng đối với hoạt động đầu tư phát triển NƠXH cũng như thuê, mua và thuê mua NƠXH trong giai đoạn 2013 - 2023, bài viết chỉ ra rằng, chính sách ưu đãi về tín dụng đối với NƠXH vẫn còn những điểm vướng mắc làm hạn chế kết quả hỗ trợ đối với chủ đầu tư các dự án NƠXH cũng như những người thuê, mua, thuê mua NƠXH. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm mở rộng hoạt động cho vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với loại hình nhà ở này.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển mô hình ngân hàng hợp kênh tại một số quốc gia, bài viết đưa ra những khuyến nghị cho việc phát triển ngân hàng hợp kênh tại Việt Nam trong thời gian tới.
Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM) và mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model - FEM) được sử dụng để phân tích dữ liệu. Với kiểm định Hausman, mô hình hiệu ứng cố định được lựa chọn để giải thích cho kết quả nghiên cứu. Theo đó, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, dư nợ/huy động vốn, thành viên hội đồng quản trị, thu nhập ngoài lãi, chi phí/doanh thu là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả nêu một số khuyến nghị chính sách như: (1) Gia tăng quy mô hoạt động của ngân hàng; (2) Cân đối giữa huy động và cho vay; (3) Xem xét cơ cấu hội đồng quản trị phù hợp; (4) Phát triển các hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi phù hợp; (5) Cần quản lí chi phí hiệu quả hơn nữa.
Bài viết tập trung làm rõ các vấn đề về nhận diện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng, đánh giá sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, từ đó đưa ra một số định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh về vấn đề này.
NHTM thông qua hoạt động tín dụng bất động sản để mở rộng kinh doanh, gia tăng lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng bất động sản còn chứa đựng nhiều bất cập như chất lượng tín dụng chưa cao, cơ cấu tín dụng chưa hợp lí, vấn đề nợ xấu gia tăng... Từ đó dẫn đến khi thị trường bất động sản suy giảm, hệ thống ngân hàng lẫn doanh nghiệp bất động sản đối mặt với nhiều rủi ro. Bài viết bàn về thực trạng tín dụng bất động sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và một số khuyến nghị.