Bài viết được thực hiện nhằm tìm hiểu tác động của lạm phát đến rủi ro tín dụng của 133 quốc gia. Để đạt mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và dữ liệu bảng, xử lý bằng phầm mềm Stata 17. Bài viết có biến độc lập là tỷ lệ lạm phát và biến phụ thuộc là nợ xấu. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, lạm phát có tác động ngược chiều đến nợ xấu và mức tác động không mạnh. Từ kết quả này, bài viết đề xuất hàm ý giải pháp cho quá trình quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Đầu tư công đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Đầu tư công ở Việt Nam chiếm khoảng 40% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đặc biệt, tại những thành phố lớn như Hà Nội thì tổng mức đầu tư công luôn chiếm tỷ lệ trên 40% tổng vốn đầu tư của Thành phố. Thực tế những năm qua cho thấy, nhu cầu và vốn đầu tư công của TP. Hà Nội dành cho đầu tư phát triển là rất lớn. Tuy nhiên, do những hạn chế trong quản lý nhà nước của Thành phố, việc quản lý, sử dụng nguồn vốn này chưa hiệu quả, vẫn còn thất thoát, lãng phí trong đầu tư, đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ bản trong các dự án đầu tư công. Do đó, cần có những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư công tại TP. Hà Nội trong thời gian tới.
Thuế tối thiểu toàn cầu đang là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của cả cộng đồng các nhà đầu tư nước ngoài và các quốc gia nhận đầu tư. Là điểm đến của nhiều dòng vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam được nhận định là sẽ chịu tác động đáng kể từ việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu, đặc biệt là trong xúc tiến, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nước ngoài. Đầu năm 2024, thuế tối thiểu toàn cầu có hiệu lực, do đó Việt Nam cần nhanh chóng triển khai các hành động nhằm ứng phó và giảm thiểu các tác động bất lợi từ cơ chế mới này. Trên cơ sở khái quát những nét chính về thuế tối thiểu toàn cầu, bài viết đánh giá tác động của thuế tối thiếu toàn cầu đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và khuyến nghị một số giải pháp...
Tại Việt Nam, trong thời gian qua, chính sách thuế đã được xây dựng, ban hành và triển khai một mặt nhằm hạn chế hành vi sản xuất và tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên; mặt khác, nhằm thúc đẩy doanh nghiệp hướng tới sản xuất xanh, đầu tư xanh và người dân chuyển hướng sang tiêu dùng xanh (chủ yếu thông qua các ưu đãi thuế). Tuy nhiên, những hạn chế, vướng mắc vẫn tồn tại và phát sinh. Bài viết đánh giá thực trạng chính sách thuế nhằm điều tiết hành vi sản xuất của doanh nghiệp cũng như tiêu dùng của Việt Nam, qua đó kiến nghị giải pháp hoàn thiện.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giữ vai trò quan trọng, thực hiện nhiệm vụ tiên phong và chính yếu kết nối với chuỗi giá trị toàn cầu. Sự gia tăng gần đây của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, bán lẻ và trung gian tài chính... có thể mang lại cơ hội cho Việt Nam khi tham gia vào các nấc giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, cần có sự chuyển hướng để đón dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực này. Trên cơ sở đánh giá thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bài viết đề xuất giải pháp để dòng vốn này góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong xu thế phát triển của kinh tế - xã hội, cũng như các nước thế giới, Việt Nam đang chú trọng việc thúc đẩy sự phát triển của tài chính toàn diện. Cụ thể, ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã đưa ra quan điểm thúc đẩy phát triển tài chính toàn diện an toàn, hiện quả, bền vững; có sự phối hợp, tham gia của cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân… Trong bức tranh tài chính toàn diện, tín dụng chính sách đang là một trong những công cụ, giải pháp quan trọng của Đảng, Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội.
Dựa trên cơ sở lý luận về dự trữ bắt buộc, bằng phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết thu thập và phân tích dữ liệu về thực trạng điều hành công cụ dự trữ bắt buộc tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công cụ này có tác dụng trong việc hạn chế cung tín dụng ngoại tệ và thu hẹp lãi suất cho vay giữa VND và ngoại tệ. Tuy nhiên, công cụ này cũng ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng thương mại và phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc vẫn còn hạn chế. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị cho công tác điều hành công cụ dự trữ bắt buộc của Việt Nam trong thời gian tới.
Trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho doanh nghiệp và nền kinh tế, qua đó hỗ trợ giảm áp lực lên kênh tín dụng ngân hàng. Tại Việt Nam, thị trường trái phiếu doanh nghiệp hình thành từ năm 2000, nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh khi Nghị định số 90/2011/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp được ban hành và có hiệu lực. Do đó, việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiệu quả, minh bạch và bền vững là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh doanh nghiệp cần đa dạng hóa các nguồn lực tài chính. Trên cơ sở đánh giá thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay, bài viết này đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường này trong thời gian tới.
Nghiên cứu này tìm hiểu các nhân tố tác động lên cấu trúc vốn của công ty phi tài chính qua việc sử dụng dữ liệu bảng được thu thập từ 428 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian 6 năm (từ 2013 đến 2021) do FiinGroup JSC cung cấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhân tố tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có ảnh hưởng nghịch chiều với đòn bẩy tài chính, điều này hợp lý khi kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp sẽ có xu hướng giảm nợ.
Báo cáo tài chính cần phải đảm bảo sự minh bạch, trung thực và khách quan để cung cấp thông tin chính xác cho các nhà quản lý doanh nghiệp, nhà đầu tư và các bên liên quan. Tuy nhiên, thời gian qua, trên thị trường chứng khoán quốc tế và Việt Nam, việc thao túng báo cáo tài chính đã gia tăng đáng kể, không chỉ về số lượng mà còn về mức độ tinh vi, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và nhà đầu tư. Trên cơ sở nhận diện các hành vi thao túng báo cáo tài chính phổ biến, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn ngừa, phát hiện các hành vi này.