CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng trẻ Hà Nội / Nguyễn Thị Mai Anh, Nguyễn Thị Phương Dung // .- 2024 .- Số 322 - Tháng 04 .- Tr. 92-100 .- 658
Nghiên cứu sử dụng lý thuyết hành vi hoạch định và khảo sát với tổng mẫu là 265, sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Các công cụ phân tích được dùng bao gồm: thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích hồi qui đơn và đa biến cùng kiểm định ANOVA. Kết quả chỉ ra rằng chất lượng cảm nhận về thực phẩm hữu cơ, quan tâm về giá, và hiệu quả cảm nhận đều có tác động đáng kể đến ý định mua thực phẩm hữu cơ. Trên cơ sở các kết quả phát hiện, nhóm tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị đối với doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, người tiêu dùng và nhà nghiên cứu để thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng thực phẩm hữu cơ.
2 Tác động của DESG đến ý định mua của người tiêu dùng Việt Nam trong ngành thực phẩm và đồ uống: Vai trò trung gian của truyền miệng điện tử / Nguyễn Sơn, Trần Bảo Trâm, Trang Thu Đào, Lê Linh, Hoàng Thành, Nguyễn Quỳnh // .- 2024 .- Số 2 .- Tr. 53-67 .- 658
Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định tác động của DESG bao gồm môi trường, xã hội và quản trị kỹ thuật số đến ý định mua của người tiêu dùng thông qua vai trò trung gian của truyền miệng điện tử. Những mối quan hệ này được xác nhận với 721 người tham gia khảo sát. Kết quả phân tích SEM cho thấy mô hình rất phù hợp với dữ liệu nghiên cứu và chứng minh tác động đáng kể của DESG trong việc hình thành ý định của người tiêu dùng. Kết quả cũng xác nhận vai trò trung gian của truyền miệng điện tử trong bối cảnh Việt Nam. Đáng ngạc nhiên khi kết quả cho thấy rằng DESG vừa có tác động trực tiếp đến ý định mua của người tiêu dùng, vừa có tác động gián tiếp thông qua truyền miệng điện tử. Những phát hiện này giúp các nhà hoạch định chính sách có những gợi ý cần thiết nhằm thúc đẩy ý định mua của người tiêu dùng trong kỷ nguyên kỹ thuật số.
3 Khảo sát vai trò phòng hộ rủi ro của vàng với thị trường chứng khoán ASEAN6 / Trần Thị Tuấn Anh, Ngô Thị Tường Nam // .- 2024 .- Số 2 .- Tr. 68-84 .- 658
Phương pháp hồi quy phân vị được áp dụng để chi tiết hóa vai trò của vàng ở các mức phân vị sinh lợi khác nhau. Ở Indonesia và Philippines, vàng chỉ có thể đóng vai trò phòng hộ rủi ro khi tỷ suất sinh lợi vàng ở mức thấp. Ở Malaysia và Việt Nam, vàng có thể là tài sản phòng hộ rủi ro khi tỷ suất sinh lợi vàng rất cao hoặc rất thấp, và là tài sản trú ẩn an toàn khi tỷ suất sinh lợi vàng tăng ở mức cao. Ở Singapore và Thái Lan, vàng có thể là tài sản trú ẩn an toàn khi tỷ suất sinh lợi vàng giảm xuống ở mức thấp nhất. Kết quả nghiên cứu mang lại những hàm ý quản trị quan trọng cho nhà đầu tư, khuyến khích sự đa dạng hóa trong danh mục đầu tư và sử dụng thông tin về vai trò của vàng tại các mức giá khác nhau để xây dựng chiến lược thời điểm thị trường.
4 Ý định lựa chọn địa điểm ăn uống của người dùng thế hệ Z: Vai trò của truyền miệng điện tử và sự tương đồng / Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt, Lê Bảo Ngọc, Nguyễn Thị Thuỷ Chung // .- 2024 .- Số 2 .- Tr. 101-115 .- 658
Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tích cực và đáng kể của truyền miệng điện tử đến thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi và ý định lựa chọn địa điểm ăn uống của người dùng. Ngoài ra, tác động điều tiết tích cực của sự tương đồng trong mối quan hệ giữa truyền miệng điện tử và thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi của khách hàng thế hệ Z cũng được tìm thấy trong nghiên cứu này. Một số hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp nhằm xây dựng và khai thác kênh truyền thông xã hội để thúc đẩy ý định lựa chọn địa điểm ăn uống của khách hàng thế hệ Z.
5 Quan hệ kinh tế Việt Nam Nhật Bản : đánh giá 50 năm qua và hướng tới năm 2045 / Trần Văn Th // .- 2024 .- Số 1 (267) .- Tr. 3 - 9 .- 327
Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản cho đến nay là giao lưu giữa một nước đang phát triển với một nước tiên tiến, và quan hệ đó thay đổi cùng với sự phát triển của Việt Nam từ nước thu nhập thấp lên nước thu nhập trung bình. Trong quá trình đó dòng chảy tư bản chỉ một chiều từ Nhật Bản sang Việt Nam dưới hình thức vốn vay ưu đãi (ODA) và đầu tư trực tiếp (FDI) nhưng trọng tâm dần dần chuyển từ ODA sang FDI. Về mặt ngoại thương, cùng với tiến triển của công nghiệp hóa tại Việt Nam, phân công giữa hai nước chuyển từ hàng dọc sang hàng ngang. Đó là sự tiến hóa hợp quy luật. Chỉ tiếc là Việt Nam chưa tận dụng các nguồn lực từ Nhật Bản để phát triển nhanh và hiệu quả hơn. Để đạt mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần liên tục tăng năng suất lao động qua nỗ lực chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, tham gia sâu hơn và cao hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong giai đoạn mới, ODA và FDI từ Nhật Bản cần có nội dung mới, cụ thể là ODA theo phương thức đề án (Offer-type ODA) kết hợp với FDI, song song với hợp tác về đào tạo nhân tài và về phát triển doanh nghiệp. Trong dài hạn Việt Nam sẽ tốt nghiệp ODA, và doanh nghiệp Việt Nam có khả năng đầu tư sang Nhật Bản, bắt đầu thời đại triển khai FDI hai chiều trong quan hệ Việt - Nhật.
6 Hợp tác kinh tế - Điểm sáng trong 50 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản / Lưu Ngọc Trịnh, Trần Thế Tuân // .- 2024 .- Số 1 (267) .- Tr. 10 – 36 .- 327
Việt Nam và Nhật Bản đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 21/9/1973 song từ cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước mới thực sự phát triển mạnh mẽ, thực chất và toàn diện. Cho đến nay, Nhật Bản đã trở thành một đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam trên tất cả các khía cạnh ODA, FDI, thương mại, du lịch và hợp tác về lao động. Trên cơ sở làm rõ thực trạng quan hệ kinh tế Việt - Nhật trong 50 năm qua, bài viết chỉ ra một số khó khăn và vấn đề đặt ra, từ đó kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm đưa mối quan hệ này lên một tầm cao mới trong tương lai.
7 Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng : từ tái lập hợp tác đến đổi tác chiến lược sâu rộng / Phạm Hồng Thái // .- 2024 .- Số 1 (267) .- Tr. 37 – 46 .- 327
Từ việc phân tích nền tảng vững chắc của quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, bài viết tổng kết, đánh giá quan hệ hai nước từ năm 1992 đến nay trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng. Quan hệ chính trị Việt Nam - Nhật Bản được đánh giá là đã phát triển vững chắc, ngày càng sâu rộng và đáp ứng lợi ích chiến lược của cả hai bên. Hợp tác an ninh - quốc phòng là một trong những điểm nhấn trong quan hệ hai nước trong thời gian gần đây với sự phát triển nhanh và hiệu quả thực chất. Chiều sâu của quan hệ chính trị và an ninh - quốc phòng Việt Nam - Nhật Bản không chỉ thể hiện trong phạm vi quan hệ song phương mà còn ở cả các diễn đàn đa phương. Bài viết đưa ra một số dự báo khẳng định triển vọng phát triển của quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực chính trị và an ninh - quốc phòng thời gian tới.
8 Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh giao thương khu vực Đông Á thế kỷ XVI-XVII / Nguyễn Văn Kim // .- 2024 .- Số 1 (267) .- Tr. 47 – 58 .- 327
Từ nhiều thế kỷ trước đây, Nhật Bản từng có mối giao thương rộng lớn với thế giới bên ngoài. Đến thế kỷ XVI-XVII, trong bối cảnh hệ thống giao thương quốc tế có những phát triển sôi động, Nhật Bản đã chủ động thiết lập quan hệ, tham gia vào các hoạt động kinh tế quốc tế. Hoạt động của các đoàn thuyền Châu ấn và chính sách tỏa quốc mà Mạc phủ Edo thực hiện sau đó đã để lại hệ quả nhiều mặt với Nhật Bản và các xã hội châu Á. Nhìn nhận hoạt động, vai trò của Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á và thế giới thế kỷ XVI-XVII, bài viết muốn góp phần làm rõ vị thế địa - kinh tế, chiến lược của Nhật Bản; chủ trưởng, cách thức thiết lập quan hệ của chính quyền Edo với các quốc gia Đông Nam Á, đồng thời qua đó phân tích vai trò của các quốc gia, không gian biển Đông Nam Á với sự phát triển chung của khu vực.
9 Tiếp xúc và giao lưu giữa Phan Bội Châu với các nhà chính trị, nhà hoạt động xã hội Nhật Bản đầu thế kỷ XX / Nguyễn Tiến Lực // .- 2024 .- Số 1 (267) .- Tr. 47 – 58 .- 327
Phong trào Đông Du là mốc son trong lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản. Nó là tiếp điểm của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX và nước Nhật Bản cận đại. Có thể hiểu theo nghĩa hẹp, phong trào Đông Du là phong trào du học của thanh thiếu niên Việt Nam ở Nhật Bản. Theo nghĩa rộng, phong trào Đông Du là một phong trào dân tộc Việt Nam mà ít nhất có ba bộ phận cấu thành: một là phong trào du học; hai là tiếp xúc và giao lưu với các nhà hoạt động chính trị, xã hội Nhật Bản và các nhà cải cách và cách mạng châu Á; ba là hoạt động xuất bản các ấn phẩm tuyên truyền tinh thần yêu nước và cách mạng cho nhân dân Việt Nam. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu một cách chi tiết về các cuộc tiếp xúc, giao lưu của Phan Bội Châu với các nhà chính trị, các nhà hoạt động xã hội Nhật Bản đầu thế kỷ XX và phân tích ảnh hưởng của các cuộc tiếp xúc đó đối với Phan Bội Châu nói riêng và đối với phong trào dân tộc Việt Nam nói chung.
10 Hợp tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Việt Nam - Nhật Bản / Hoàng Minh Lợ // .- 2024 .- Số 1 (267) .- Tr. 59 – 79 .- 327
Cho đến nay, Việt Nam và Nhật Bản đã trở thành đối tác chiến lược sâu rộng, điều đó được thể hiện rất rõ qua quá trình hợp tác trên nhiều lĩnh vực mà một trong số đó là về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là lĩnh vực vô cùng quan trọng trong tiến trình hợp tác giữa hai quốc gia diễn ra trong thời gian khá dài nhưng về cơ bản tập trung ở các khía cạnh chính là: vấn đề đào tạo, sử dụng và quản lý nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm phục vụ cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam, Nhật Bản.