CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Khảo sát các yếu tố liên quan tử vong ở bệnh nhân viêm phổi bệnh viện do Acinetobacter baumannii tại Khoa Hô hấp – Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2024–2025 / Đặng Vũ Thông, Vũ Hoài Nam // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 361 - 366 .- 610
Viêm phổi bệnh viện do Acinetobacter baumannii đa kháng thuốc tiếp tục là nguyên nhân quan trọng làm gia tăng tỷ lệ tử vong và kéo dài thời gian nằm viện ở bệnh nhân nặng. Việc nhận diện các yếu tố liên quan tử vong giúp bác sĩ lâm sàng tối ưu hóa điều trị và tiên lượng sớm. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân viêm phổi bệnh viện do A. baumannii điều trị tại khoa Hô hấp, Bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 76 bệnh nhân viêm phổi bệnh viện có phân lập A. baumannii từ dịch tiết hô hấp, điều trị tại khoa Hô hấp từ 10/2024 đến 04/2025. Các biến số về lâm sàng, cận lâm sàng, kháng sinh đồ và kết cục được thu thập và phân tích. Kết quả: Tỷ lệ tử vong là 46,1%. Nhịp mạch khi nhập viện có sự khác biệt thống kê giữa nhóm tử vong và sống còn. Ngoài ra, giảm lymphocyte, giảm tiểu cầu và giảm eGFR được ghi nhận rõ hơn ở nhóm tử vong. Toàn bộ chủng A. baumannii đều kháng carbapenem (100%) và đa kháng (100%), với tỷ lệ kháng cotrimoxazol 82,9%, gentamicin 97,4%, nhưng còn nhạy với colistin (MIC ≤ 1 ở 98,6%). Sau khi có kháng sinh đồ, tỷ lệ sử dụng colistin tăng lên 67,1%. Mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy tiểu cầu thấp liên quan đáng kể đến nguy cơ tử vong (p=0,003). Kết luận: Các chỉ số về huyết học và chức năng thận có thể hỗ trợ nhận diện nhóm bệnh nhân viêm phổi bệnh viện do A. baumannii có nguy cơ tử vong cao do tình trạng đa kháng thuốc.
2 Định danh loài nấm men gây bệnh nấm móng và khảo sát sự nhạy cảm với thuốc kháng nấm / Ngô Thị Minh Châu, Phan Thị Hồng Nhi, Tôn Thất Đông Dương, Đỗ Thị Bích Thảo // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 56-64 .- 610
Nấm móng là bệnh tương đối phổ biến trong các bệnh lý da liễu. Trong các tác nhân nấm men gây bệnh, Candida albicans là loài phổ biến nhất. Ngoài ra bệnh nguyên khác là non - albicans Candida và một số giống nấm men khác. Các loài non - albicans Candida thường ít nhạy cảm với thuốc kháng nấm hơn so với C. albicans. Mục tiêu: 1. Định danh các loài nấm men gây bệnh nấm móng bằng kỹ thuật nuôi cấy trên môi trường sinh màu và thử nghiệm đồng hóa đường bằng test API 20C. 2. Khảo sát sự nhạy cảm với một số thuốc kháng nấm bằng kỹ thuật khuếch tán trên đĩa thạch. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 39 bệnh nhân có tổn thương móng đến khám tại Phòng khám Da liễu, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và Bệnh viện Da liễu thành phố Huế trong thời gian từ 10/2023 đến 05/2024. Kết quả: C. parapsilosis là loài phổ biến nhất 46%, tiếp đến là C. tropicalis 16%, C. albicans 12%, C. guilliermondii 8%, C. famata 4%. Một số loài nấm men khác gồm T. asahi (12%), T. muicoides (2%) cũng được phân lập. Không ghi nhận có tình trạng đề kháng của Candida spp. với amphotericine B, nystatin, itraconazole, clotrimazole. Tỷ lệ đề kháng của Candida spp. với fluconazole, voriconazole, ketoconazole, miconazole lần lượt là: 32,6%, 25,6%, 9,3%, 27,9%. C. albicans nhạy cảm tốt với hầu hết các thuốc thử nghiệm, trừ fluconazole. Ghi nhận các non - albicans Candida đề kháng với tất cả thuốc azole, trong đó C. tropicalis có tỷ lệ đề kháng cao nhất. Trichosporon spp. nhạy cảm với tất cả các thuốc thử nghiệm, trừ ketoconazole. Kết luận: C. parapsilosis là loài được phân lập nhiều nhất ở các bệnh nhân nấm móng. Các loài non- albicans Candida đề kháng thuốc azole hơn C. albicans. C. tropicalis có tỷ lệ kháng các thuốc azole cao nhất.
3 Đánh giá hiệu quả giảm đau của dexamethasone tĩnh mạch phối hợp gây tê thần kinh đùi trong phẫu thuật thay khớp háng / Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Thị Phương Dung, Hoàng Quốc Thắng // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 66-73 .- 610
Gây tê thần kinh đùi liều đơn là kỹ thuật có hiệu quả giảm đau tốt sau phẫu thuật thay khớp háng. Liệu việc sử dụng dexamethasone tĩnh mạch phối hợp với gây tê thần kinh đùi liều đơn có giúp kéo dài thời gian giảm đau, giảm tổng liều opioid tiêu thụ hay không? Dexamethasone tĩnh mạch giúp kéo dài thời gian giảm đau của gây tê thần kinh đùi, giảm tổng liều morphine tiêu thụ trong 24 giờ sau phẫu thuật thay khớp háng.
4 Hiệu quả của vecni fluor trong phòng ngừa sâu răng ở trẻ 3 tuổi tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu / Lê Trung Chánh, Tôn Thất Đam Triều, Hồ Hữu Tiến, Hoàng Trọng Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 357 - 361 .- 610
Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của việc bôi vecni fluor định kỳ trong phòng ngừa tiến triển sâu răng sớm ở trẻ 3 tuổi đang tham gia chương trình nha học đường, tại các thời điểm sau 3, 6 và 9 tháng can thiệp. Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) được tiến hành trên 880 trẻ 3 tuổi từ 16 trường mầm non tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sau sàng lọc, 768 trẻ có chỉ số sâu răng s1mt-r > 0 được chọn và chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: nhóm can thiệp (n=406) được bôi vecni fluor mỗi 3 tháng; nhóm chứng (n=362) không được bôi vecni fluor. Cả hai nhóm đều đang được hưởng lợi từ chương trình nha học đường hiện hành của tỉnh. Tình trạng sâu răng được đánh giá theo hệ thống ICDAS bởi 4 điều tra viên đã được huấn luyện và chuẩn hóa (Kappa ≥ 0,84), ghi nhận ở hai mức độ: sang thương chưa tạo lỗ (s1) và có tạo lỗ (s3). Các chỉ số s1mt-r, s3mt-r và OHIS được thu thập tại các thời điểm T0, T1 (3 tháng), T2 (6 tháng) và T3 (9 tháng). Phân tích thống kê sử dụng kiểm định Chi bình phương, kiểm định T độc lập và kiểm định T bắt cặp. Kết quả: Chỉ số OHIS tăng ở cả hai nhóm theo thời gian nhưng không có sự khác biệt giữa nhóm (p=0,786). Từ T0 đến T3, chỉ số s1mt-r ở nhóm can thiệp gần như không thay đổi (∆ = 0,02; p=0,928), trong khi nhóm chứng tăng đáng kể (∆ = 0,81; p=0,007); sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p=0,042). Với chỉ số s3mt-r, mức tăng từ T0 đến T3 ở nhóm can thiệp là 0,94 (p<0,001), thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng là 1,66 (p<0,001); sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,013). Kết luận: Việc bôi vecni fluor định kỳ mỗi 3 tháng giúp làm chậm tiến triển sâu răng ở trẻ mầm non, kể cả khi trẻ đang được thụ hưởng chương trình nha học đường. Đây là một biện pháp dự phòng khả thi và hiệu quả, phù hợp để lồng ghép vào chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng học đường tại Việt Nam.
5 Nghiên cứu tỷ lệ chấn thương sọ não do tai nạn giao thông đường bộ và các yếu tố liên quan đến mức độ nặng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng / Nguyễn Minh Thu, Nguyễn Hoàng Thùy Linh // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 32-38 .- 610
Chấn thương sọ não có thể để lại nhiều di chứng nặng nề cũng ảnh hưởng đến cuộc sống người thân, đồng thời liên quan đến tỷ lệ tử vong cao. Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định tỷ lệ và đặc điểm chấn thương sọ não do tai nạn giao thông đường bộ ở bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2022 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của chấn thương sọ não. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp sử dụng số liệu thứ cấp trên 1948 bệnh nhân gặp tai nạn giao thông đường bộ vào cấp cứu và điều trị tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Lâm Đồng. Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông đường bộ là 36,1%, trong đó tỷ lệ chấn thương sọ não mức độ nặng là 16,6%, chấn thương sọ não mức độ nhẹ là 83,4%. Các yếu tố giới tính, loại đường xảy ra tai nạn giao thông, sử dụng bia rượu, thời tiết, nhu cầu hỗ trợ hô hấp trong cấp cứu và nhu cầu điều trị nội khoa cấp cứu là những yếu tố có liên quan đến mức độ nặng của chấn thương sọ não. Kết luận: Nghiên cứu đã đưa ra tỉ lệ mức độ nặng theo thang RTS của chấn thương sọ não do TNGTĐB là 16,6% và một số yếu tố liên quan sử dụng rượu bia, một số đặc điểm trong điều trị cấp cứu. Vì vậy, cần thiết quan tâm hơn về giáo dục tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tham gia giao thông của người dân nhằm giảm tỷ lệ chấn thương sọ não do tai nạn giao thông đường bộ, cũng như giảm tỉ lệ nặng của các trường hợp chấn thương.
6 Đánh giá kết quả phẫu thuật u nang giáp lưỡi thể lưỡi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương trong giai đoạn 2022-2025 / Đỗ Phương Linh, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Quang Trung // .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 352 - 357 .- 610
Đánh giá kết quả phẫu thuật u nang giáp lưỡi thể lưỡi (UNGLTL) tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương giai đoạn 2022–2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh có can thiệp hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 27 bệnh nhân UNGLTL được phẫu thuật bằng kỹ thuật Sistrunk hoặc qua đường miệng. Các biến số gồm: tuổi, giới, cơ năng, MRI, thời gian mổ, lượng máu mất, biến chứng, tái phát, sẹo. Kết quả: So với phẫu thuật Sistrunk, phẫu thuật qua đường miệng có thời gian mổ ngắn hơn (46,8 phút so với 77,1 phút; p = 0,012), lượng máu mất ít hơn đáng kể (6,0 ml so với 28,9 ml; p < 0,001) và không ghi nhận biến chứng nào. Tỷ lệ tái phát nhóm Sistrunk là 5/22 (22,7%), chủ yếu xảy ra ở bệnh nhân có tiền sử viêm kéo dài. Đánh giá thẩm mỹ bằng thang điểm POSAS cho thấy 86,4% vết mổ đạt kết quả tốt. Hình ảnh MRI có giá trị trong việc hỗ trợ lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp. Kết luận: Tỷ lệ tái phát chung sau phẫu thuật u nang giáp lưỡi thể lưỡi là 8/27 (29,6%), cao hơn so với các báo cáo quốc tế, trong đó nhóm Sistrunk chiếm 5/22 ca và nhóm phẫu thuật qua đường miệng 3/5 ca. Biến chứng được ghi nhận ở 6 ca, đều thuộc nhóm phẫu thuật Sistrunk. Cả hai phương pháp đều tương đối an toàn, tuy nhiên phẫu thuật qua đường miệng cho thấy ưu thế vượt trội về tính thẩm mỹ, ít biến chứng và thời gian hồi phục nhanh, là một lựa chọn tiềm năng trong điều trị u nang giáp lưỡi thể lưỡi.
7 Nhận thức về học tập dựa trên mô phỏng trong thực hành các kỹ năng lâm sàng của sinh viên y khoa Trường Y Dược - Đại học Duy Tân / Trương Hoàng Ngọc Quý, Nguyễn Nhật Trường, Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Đình Tùng // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 39-48 .- 610
Các trường đại học Y Dược tại Việt Nam đã thiết lập các trung tâm huấn luyện kỹ năng mô phỏng y khoa để nâng cao kỹ năng lâm sàng cho sinh viên, nhưng hiệu quả vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hiện chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam về nhận thức của sinh viên ngành y đa khoa về phương pháp học tập này. Nghiên cứu này nhằm đánh giá nhận thức của sinh viên Y khoa, Trường Y Dược - Đại học Duy Tân về học tập dựa trên mô phỏng và các yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2024 với 347 sinh viên từ năm 1 đến năm 7. Dữ liệu thu thập qua bộ công cụ tự điền, đánh giá nhận thức về hệ quả, lợi ích và khả năng học tập dựa vào mô phỏng bằng thang đo Likert 5 mức độ. Số liệu được phân tích bằng SPSS 20 với mô hình hồi quy logistic đa biến. Kết quả: 40,3% sinh viên có nhận thức cao và 59,4% có nhận thức trung bình. Sinh viên cho rằng phương pháp mô phỏng trong lớp học có nhận thức cao hơn gấp 2,185 lần so với những sinh không có hoặc không nhớ. Sinh viên chưa thực hành tại bệnh viện và thực hành theo giờ quy định có nhận thức cao hơn lần lượt 3,622 và 3,932 lần so với sinh viên có thực hành ngoài giờ. Kết luận: Đa dạng hóa việc áp dụng mô phỏng trong giáo dục y học, tăng cường các tình huống mô phỏng lâm sàng sẽ giúp tăng nhận thức về học tập dựa trên mô phỏng.
8 Kết quả của phương pháp cắt niêm mạc qua nội soi dưới nước (UEMR) trong điều trị Polyp không cuống đại trực tràng kích thước 10 - 20 mm / Đặng Thạnh // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 73-78 .- 610
Polyp không cuống đại trực tràng có nguy cơ tiến triển thành ung thư, do đó cần được loại bỏ hiệu quả. Kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi dưới nước (UEMR) là một phương pháp mới được kỳ vọng có hiệu quả và độ an toàn cao hơn so với phương pháp cắt niêm mạc nội soi quy ước (CEMR), tuy nhiên dữ liệu về hiệu quả và độ an toàn của phương pháp này tại Việt Nam vẫn còn chưa nhiều. Mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ cắt và bờ an toàn (R0) của UEMR trong điều trị polyp không cuống đại trực tràng kích thước 10 - 20 mm, đối chiếu với CEMR. 2. So sánh biến chứng của hai phương pháp điều trị trên. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát hiệu quả điều trị trên 100 polyp không cuống đại trực tràng kích thước 10 - 20 mm tại Khoa Nội soi, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 11/2023 đến tháng 6/2024; chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: UEMR (n = 50) và CEMR (n = 50). Kết quả: Tỷ lệ cắt trọn khối của UEMR cao hơn CEMR (100% so với 90%, p<0,05). Tỷ lệ bờ an toàn (R0) cũng vượt trội hơn ở nhóm UEMR (96% so với 84%, p < 0,05). UEMR giảm đáng kể biến chứng chảy máu (6,0% so với 24,0%, p < 0,05) so với CEMR, tỷ lệ hội chứng đốt điện sau cắt cũng thấp hơn ở nhóm UEMR (6,0% so với 18,0%) nhưng khác biệt không có ý nghĩa, p > 0,05. Kết luận: UEMR là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị polyp không cuống đại trực tràng kích thước 10-20 mm, cho tỷ lệ cắt trọn khối và bờ an toàn (R0) cao hơn, ít biến chứng hơn so với CEMR.
9 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách / Nguyễn Nguyện, Hồ Mạnh Hùng, Trần Hữu Anh Tú // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 144-151 .- 610
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi mũi xoang điều trị viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu ở 56 bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách, được phẫu thuật nội soi mũi xoang từ tháng 2/2021 đến tháng 6/2023. Phương pháp nghiên cứu tiến cứu, mô tả, có can thiệp lâm sàng. Kết quả: Nam chiếm tỷ lệ 55,4%, nam 44,6%. Độ tuổi 16 - 45 gặp nhiều nhất, chiếm 59%. Triệu chứng cơ năng: chảy mũi gặp ở mọi trường hợp, nghẹt mũi 91,1%, nhức đầu 83,9%, giảm mất khứu giác 33,9%. Triệu chứng thực thể qua nội soi: tất cả đều có phù nề niêm mạc và bán tắc phức hợp lỗ ngách, dịch xuất tiết 96,4% và polyp mũi 37,5%. Hình thái bất thường phức hợp lỗ ngách chủ yếu là bất thường cuốn giữa 24,1%, tế bào Haller rất hiếm gặp chỉ 2,7%. Đánh giá kết quả chung điều trị sau phẫu thuật 3 tháng: tốt 67,9%, khá 28,5% và 3,6% kém là hai trường hợp có tái phát polyp. Không có trường hợp nào bị biến chứng nặng như tổn thương ống lệ tỵ, chảy dịch não tủy, chảy máu hậu nhãn cầu, song thị hay mù mắt. Kết luận: Phẫu thuật nội soi mũi xoang là phương pháp an toàn và hiệu quả để điều trị viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách.
10 Chất lượng giáo dục sức khỏe đối với bệnh nhân đái tháo đường điều trị nội trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế / Dương Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Mai Lan // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 152-159 .- 610
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính phổ biến, gây nhiều biến chứng nặng và đòi hỏi bệnh nhân có kiến thức, kỹ năng tự chăm sóc. Giáo dục sức khỏe (GDSK) trước khi xuất viện đóng vai trò quan trọng, trong đó điều dưỡng là lực lượng thực hiện chính. Tuy nhiên, chất lượng GDSK tại bệnh viện còn nhiều hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: (1) Mô tả phản hồi của bệnh nhân ĐTĐ về chất lượng GDSK xuất viện của điều dưỡng; (2) Khảo sát các yếu tố liên quan đến phản hồi này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 110 bệnh nhân ĐTĐ tại Khoa Nội, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Công cụ đánh giá là thang điểm QDTS. Dữ liệu được xử lý bằng thống kê mô tả, kiểm định t-test, ANOVA và hồi quy tuyến tính đa biến (p < 0,05). Kết quả: Điểm trung bình toàn thang QDTS là 7,91 ± 0,38. Nội dung cần thiết cao hơn nội dung thực tế nhận được. Ba yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: giới tính, bác sĩ và điều dưỡng là người cung cấp thông tin. Một số yếu tố khác như bệnh kèm, tiền sử gia đình và HbA1c có liên quan bước đầu nhưng không còn ý nghĩa khi phân tích đa biến. Kết luận: Bệnh nhân đánh giá chất lượng GDSK ở mức khá, nhưng vẫn còn chênh lệch giữa mong đợi và nội dung nhận được. Giới tính và người cung cấp thông tin là các yếu tố liên quan đáng kể. Cần tăng cường kỹ năng giao tiếp và cá nhân hóa nội dung GDSK nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sau xuất viện.