Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng tái phát trong bệnh bạch cầu cấp dòng tủy ở trẻ em
Tác giả: Phạm Đỗ Phương Anh, Huỳnh NghĩaTóm tắt:
ịDù đã có những tiến bộ so với trước đây, điều trị bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ (BCCDT) ở trẻ em vẫn được xem là một thách thức. Tái phát xảy ra ở 30 – 40% bệnh nhi và là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại điều trị 4. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ tái phát và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng tái phát ở trẻ mắc BCCDT. Nghiên cứu mô tả loạt ca, hồi cứu, gồm 79 bệnh nhi mới chẩn đoán BCCDT và điều trị đặc hiệu tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học (BV TMHH) từ tháng 01/2018 đến tháng 01/2023. Tỉ lệ tái phát chung là 47,8%. Xác suất sống không tái phát (RFS) 36 tháng là 41,8±5,7%. Đa số tái phát tuỷ đơn độc và xảy ra trong vòng 12 tháng sau khi đ ạt CR. Đặc điểm di truyền lúc chẩn đoán và ghép TBG có mối liên hệ với tình trạng tái phát. NB thuộc nhóm nguy cơ thấp có tỉ lệ tái phát thấp hơn nguy cơ trung bình - cao (p=0,033). Tái phát xảy ra ít hơn rõ rệt ở nhóm ghép TBG so với nhóm không ghép (p=0,028). Khi tái phát, NB có tiên lượng xấu với OS 6 tháng kể từ khi tái phát là 38,8±8,8% và ghép TBG là phương án giúp cải thiện sống còn. Nghiên cứu cho thấy phân nhóm nguy cơ hiệu quả và mở rộng ghép tế bào gốc là cần thiết để giảm tái phát từ đó cải thiện kết cục điều trị trong BCCDT trẻ em.
- Mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh của sarcôm tạo xương với dấu ấn SATB2
- Đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch sarcoma màng hoạt dịch tại Bệnh viện K
- Nghiên cứu dấu hiệu lâm sàng và đặc điểm giải phẫu bệnh của bệnh viêm da cơ
- Đánh giá biểu hiện của thụ thể androgen trên bệnh ung thư vú bộ ba âm tính bằng phương pháp hóa mô miễn dịch
- Nghiên cứu đặc điểm hoá mô miễn dịch của EGFR và các dấu ấn CK, p63, Vimentin trong ung thư biểu mô vú dị sản tại Bệnh viện K





