CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Kiến thức tài chính và những tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của sinh viên / Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng Tú Linh, Nguyễn Thị Ngọc Lan // .- 2024 .- Số 823 - Tháng 4 .- Tr. 225-229 .- 332.632
Nghiên cứu này tìm hiểu tác động của kiến thức tài chính tới quyết định đầu tư chứng khoán của sinh viên trên địa bàn Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp có giá trị tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học lĩnh vực tài chính ở bậc đại học. Kết quả nghiên cứu sử dụng phương pháp nhân tố khám phá (EFA) cho thấy, các nhân tố kiến thức chuyên ngành, thái độ tài chính, mức chấp nhận rủi ro, thông tin kinh tế - xã hội có tác động thuận chiều tới ý định sử dụng của khách hàng, trong khi đó các nhân tố kiến thức cơ sở và tâm lý đầu tư không có ý nghĩa thống kê.
2 Tác động từ quảng cáo “Tẩy xanh” đến ý định tiêu dùng xanh của thế hệ trẻ / Đỗ Thị Hải Ninh // .- 2024 .- Số 823 - Tháng 4 .- Tr. 230-233 .- 658.8
Quảng cáo xanh ngày càng thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng. Tuy nhiên, không ít trường hợp quảng cáo khẳng định sản phẩm xanh và đưa ra các cam kết bảo vệ môi trường, nhưng thực tế lại không đúng như vậy và hiện tượng này được gọi là tẩy xanh. Nghiên cứu này tìm hiểu về nhận thức “tẩy xanh” ảnh hưởng tới ý định tiêu dùng sản phẩm xanh của giới trẻ. Thông qua lý thuyết hành động hợp lý, nghiên cứu này kiểm chứng ảnh hưởng của tẩy xanh tới thái độ của người tiêu dùng đối với việc tiêu dùng các sản phẩm mang tính chất bền vững. Mẫu nghiên cứu gồm 352 người được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Kết quả cho thấy, quảng cáo tẩy xanh có ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp tới ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng trẻ. Hơn thế nữa, thái độ đối với bền vững và cảm giác bị phản bội của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng tới ý định tiếp tục mua của người tiêu dùng trẻ.
3 Giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa doanh nghiệp tại Việt Nam / Đặng Phương Linh // .- 2024 .- Số 823 - Tháng 4 .- Tr. 234-236 .- 658.562
Năng suất chất lượng được coi là một trong những vấn đề sống còn của nền kinh tế. Việc thúc đẩy năng suất là nền tảng, động lực giúp kinh tế mỗi quốc gia phát triển. Đối với hoạt động của doanh nghiệp, năng suất chất lượng là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh, yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bài viết trao đổi về hoạt động nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để tiếp tục thúc đẩy hoạt động này trong thời gian tới.
4 Thúc đẩy xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế tuần hoàn / Nguyễn Thị Vân // .- 2024 .- Số 657 - Tháng 4 .- Tr. 4-6 .- 330
Xuất khẩu dệt may trong bối cảnh nền kinh tế tuần hoàn tập trung vào phân tích ba yếu tố là nguồn của ngành dệt may, cầu của xuất khẩu dệt may và các chính sách xuất khẩu dệt may trong nền kinh tế hoàn. Trong bối cảnh kinh tế tuần hoàn toàn cầu, ngành dệt may Việt Nam đang đón nhận những cơ mở rộng và tăng trưởng như tận dụng lợi thế từ các FTAs, công nghệ hiện đại, đa dạng hóa thị trườngđó bài nghiên cứu đưa ra các hàm ý chính sách đối với chính phủ và doanh nghiệp để thúc đẩy xuất dệt may của Việt Nam trong nền kinh tế tuần hoàn.
5 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Hải quan Việt Nam / Nguyễn Trà My // .- 2024 .- Số 657 - Tháng 4 .- Tr. 7-9 .- 658
Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2030 là lấy cải cách, hiện đại hóa làm cơ sở, hiện đại hóa mô hình quản lý hải quan làm trọng tâm; đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong ngành hải quan để xây dựng Hải quan Việt Nam chính quy, hiện đại, ngang tầm hải quan các nước phát triển trên thế giới, dẫn đầu trong thực hiện Chính phủ số, với mô hình hải quan số, hải quan thông minh. Chính vì vậy, việc phân tích kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới và rút ra bài học là cần thiết cho hải quan Việt Nam.
6 Tổng quan nghiên cứu về hành vi từ bỏ giỏ hàng trong quy trình mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng trên sàn thương mại điện tử / Trần Thị Hoa, Phan Tố Uyên, Lê Thị Hương Đinh Thị Hải Yến, Trần Thị Thu Trà, Nguyễn Thanh Tùng // .- 2024 .- Số 657 - Tháng 4 .- Tr. 10-12 .- 658.8
Hành trình mua sắm trực tuyến tưởng chừng đơn giản nhưng lại ẩn chứa nhiều rủi ro khiến không ít khách hàng từ bỏ trước khi thanh toán. Hiện tượng từ bỏ giỏ hàng (Abandoned Cart) là nỗi lo đối với các nhà kinh doanh online, với tỷ lệ trung bình lên đến 70% trên toàn cầu, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp mất đi lượng doanh thu tiềm năng khổng lồ. Hiện tượng này xảy ra khi người tiêu dùng đang tìm kiếm sản phẩm hoặc khi các mặt hàng đã được chọn và người tiêu dùng đang chuyển sang thanh toán sản phẩm thì do một hoặc một số nguyên nhân khiến người tiêu dùng loại bó hàng hóa, dịch vụ đó trước khi hoàn tất giao dịch mua. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả đã tổng quan các tài liệu trong và ngoài nước với mục đích tìm ra khoảng trống và các câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết.
7 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Kiên Giang / Nguyễn Thị Thúy An, Nguyễn Hoài Thương // .- 2024 .- Số 657 - Tháng 4 .- Tr. 13-15 .- 910
Du lịch là ngành có nhiều đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Kiên Giang. Những năm gần đây, du lịch Kiên Giang có những bước phát triển nhanh, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh. Bài viết sau đây đưa ra phân tích về những thành tựu đạt được và những khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển du lịch tại Kiên Giang, từ đó đề xuất giải pháp phát triển du lịch Kiên Giang trong thời gian tới.
8 Phát triển cơ sở hạ tầng logistics xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh / Nguyễn Ngọc Lan // .- 2024 .- Số 657 - Tháng 4 .- Tr. 16-18 .- 658.7
Logistics xanh bao gồm nhằm mục tiêu để tạo ra giá trị trong những yếu tố quan trọng logistics. tất cả các nỗ lực để giảm thiểu tác động sinh thái của hoạt động logistics bền vững khi cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và bảo vệ mội trường. Một để phát triển hệ thống logistics xanh trên địa bàn tỉnh là cơ sở hạ tầng logistics.
9 Điều kiện có hiệu lực của di chúc và phân chia di sản thừa kế theo di chúc / Nguyễn Nhật Huy // .- 2024 .- Số 4 .- Tr. 45 – 53 .- 340
Hiện nay, nhu cầu định đoạt tài sản thông qua hoạt động lập di chúc trên lãnh thổ Việt Nam của người nước ngoài phát sinh ngày càng nhiều. Trên thực tiễn, việc áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hoạt động này vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập do đây là một quan hệ phức tạp, liên quan tới nhiều hệ thống pháp luật. Bài viết phân tích, đánh giá những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện có hiệu lực của di chúc (bao gồm điều kiện về năng lực hành vi lập, thay đổi và hủy bỏ di chúc của người nước ngoài và điều kiện về hình thức của di chúc do người nước ngoài lập tại Việt Nam) và phân chia di sản thừa kế theo di chúc do người nước ngoài lập tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này.
10 Hoàn thiện các quy định về hoà giải, đối thoại theo Luật Hoà giải, đối thoại tại toà án / Bùi Ai Giôn // .- 2024 .- Số 4 .- Tr. 54 – 65 .- 340
Luật Hoà giải, đối thoại tại toà án năm 2020 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021 đã góp phần thúc đẩy hiệu quả việc giải quyết các tranh chấp dân sự, hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật này phát sinh một số khó khăn, vướng mắc. Bài viết phân tích thực tiễn thi hành Luật Hoà giải, đối thoại tại toà án năm 2020, qua đó nêu lên những kết quả đã đạt được và những khó khăn, vướng mắc trong việc thi hành Luật Hoà giải, đối thoại tại toà án và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật này.