Cơ sở lý luận về liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp; Thực trạng liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam trong tiêu thụ nông sản; Một số giải pháp tạo mối liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam trong tiêu thụ nông sản.
Trình bày mô hình, cơ sở lý thuyết, Phương pháp nghiên cứu về những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.
Trình bày sự cần thiết phải gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực ngành quản trị kinh doanh; Tăng cường gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực ngành quản trị kinh doanh.
Yêu cầu thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất - tính giá thành sản phẩm xây dựng; Tổ chức cung cấp thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất - tính giá thành sản phẩm xây dựng trong điều kiện hội nhập.
Những thuận lợi và khó khăn trong thu hút và giữ chân người tài ở doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và vừa; Giải pháp tài chính thu hút và giữ chân người tài ở doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và vừa.
Tổng quan về giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài; Cập nhật quy tắc tố tụng trọng tài, chủ động khi giải quyết tranh chấp thương mại trong hội nhập quốc tế.
Khái niệm nguồn nhân lực; Thực trạng nguồn nhân lực qua đào tạo và nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay; Những hách thức và nguyên nhân yếu kém, bất cập.
Mục đích của nghiên cứu là xem xét các nhân tố (nguy cơ) gây mất an ninh năng lượng ở Việt Nam. Dựa trên tổng quan tài liệu, nghiên cứu tiến hành đánh giá các nhóm nhân tố gây mất an ninh năng lượng ở Việt Nam, bao gồm nhóm nhân tố xuất phát từ nguồn cung năng lượng (S) và nhóm nhân tố ảnh hưởng từ cầu năng lượng (D). Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập thông qua khảo sát các cán bộ làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên. Dựa trên dữ liệu khảo sát, mô hình cấu trúc mạng được sử dụng để phân tích các nhóm nguy cơ gây mất an ninh năng lượng, thông qua 03 bước: (i) kiểm định độ tin cậy của thang đo; (ii) phân tích nhân tố khám phá (EFA); (iii) phân tích nhân tố khẳng định (CFA).
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của phân bổ không đúng nguồn lực đến năng suất nhân tố tổng hợp, tập trung vào các doanh nghiệp chế tác Việt Nam dựa trên bộ điều tra doanh nghiệp của Việt Nam và số liệu của Cục quốc gia về nghiên cứu Kinh tế của Mỹ trong giai đoạn 2000- 2012. Chúng tôi áp dụng khung nghiên cứu của Hsieh & Klenow (2009) được hiệu chỉnh theo số liệu của Mỹ để trả lời nguồn lực phân bổ sai ở Việt Nam ở mức độ nào? năng suất cải thiện như thế nào khi không có biến dạng? phát triển khu vực kinh tế nào có mức phân bổ sai thấp ở Việt Nam? Những câu trả lời cho các câu hỏi trên như sau. Thứ nhất, phân bổ không đúng ở Việt Nam có thể so sánh với Trung Quốc và Ấn Độ. Thứ hai, sẽ có những cải thiện đáng kể ở TFP là 24,1% trong trường hợp không có sự biến dạng. Cuối cùng, mức phân bổ không đúng nguồn lực được tìm thấy lớn nhất ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và nhỏ nhất ở Bắc Trung Bộ.
Bài viết xem xét vai trò của quản trị công trong mối quan hệ giữa FDI và đầu tư tư nhân cho bộ dữ liệu bảng cân bằng của 82 nước đang phát triển trong giai đoạn 2000 – 2013 bằng phương pháp ước lượng GMM Arellano-Bond sai phân hai bước. Kết quả ước lượng cho thấy FDI và chất lượng quản trị công thúc đẩy đầu tư tư nhân ở cả ba mẫu nghiên cứu. Trong khi đó, biến tương tác giữa FDI và quản trị công thúc đẩy đầu tư tư nhân ở mẫu nghiên cứu chính và mẫu thu nhập trung bình thấp, nhưng làm giảm đầu tư tư nhân ở mẫu thu nhập trung bình cao. Ngoài ra, các biến như tăng trưởng kinh tế, nguồn thu thuế, độ mở thương mại, và lạm phát là các yếu tố quyết định có ý nghĩa lên đầu tư tư nhân ở các quốc gia này. Các phát hiện này đề xuất một số hàm ý chính sách quan trọng cho chính phủ ở các nước đang phát triển.