CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đề xuất các hoạt động học tập tương tác và chiến lược học tiếng Anh hướng tới mục tiêu phát huy năng lực tự chủ của người học tiếng Anh / Ngô Phương Anh // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2018 .- Số 1(268) .- Tr. 37- 51 .- 400
Góp phần lấp đầy những thiếu hụt: Thiết lập nền tảng lý thuyết cho hệ tư tưởng sư phạm hướng tới việc thúc đẩy năng lực tự chủ của người học tiếng Anh EFL; Đề xuất khung chiến lược học tập và các hoạt động học tập; Trình bày đánh giá của người học đối với khung các hoạt động và CLHT mà tác giả đề xuất.
2 Nghệ thuật so sánh tu từ và trùng điệp trong sử thi Đăm Săn qua lời nói vần / Nguyễn Minh Hoạt // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2018 .- Số 1(268) .- Tr. 73 - 75 .- 400
Phát họa được sự phát triển và đổi mới ngôn ngữ thơ Việt Nam từ sau 1986 đến nay bằng cách nghiên cứu trường hợp theo thao tác phân tích định lượng và định tính của ngôn ngữ học. Công trình đã tập trung khảo cứu hai cấp độ: Đổi mới từ vựng – ngữ nghĩa và Đổi mới cú pháp thơ.
3 Một cách nhìn tích hợp về các biện pháp tu từ / Dương Hữu Biên // Nghiên cứu văn học .- 2017 .- Số 11 .- Tr. 4 - 16 .- 400
Khảo sát một số biện pháp tu từ then chốt từ một cách nhìn tích hợp. Những mã tu từ chứa đựng những hàm nghĩa nhận thức luận, thế giới quan, ý thức hệ gắn liền với đời sống văn hóa và giao tiếp của mỗi xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử nhất định trong tiến trình của con người.
4 Công bằng xã hội về kinh tế trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam / Hồ Quế Hậu // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 2-11 .- 336.007 6
Bài viết đánh giá thực trạng công bằng xã hội về kinh tế trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ đổi mới và khuyến nghị một số chính sách thực hiện công bằng xã hội về kinh tế trong thời gian tới. Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam là một trong số ít quốc gia vừa thực hiện được tăng trưởng nhanh vừa thực hiện được công bằng xã hội. Tuy nhiên, còn nhiều bất cập trong thực hiện công bằng xã hội và bất bình đẳng kinh tế đang gia tăng. Vì vậy, cần phải hoàn thiện việc điều tiết thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện triệt để hơn chính sách “xã hội hóa” dịch vụ công đi đôi với chính sách đầu tư phát triển hợp lý và chính sách an sinh xã hội.
5 Mối quan hệ giữa tiêu thụ điện và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam / Bùi Hoàng Ngọc, Vương Đức Hoàng Quân // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 12-22 .- 330
Mục đích của nghiên cứu này là kiểm định quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ điện và tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam trong giai đoạn từ 1980-2014. Bài viết ứng dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ ARDL (Autoregressive Distributed Lag) để kiểm tra đồng liên kết giữa các biến và phân tích quan hệ nhân quả Granger theo phương pháp của Toda & Yamamoto. Kết quả kiểm định cho thấy có đồng liên kết trong dài hạn giữa các biến, đồng thời phân tích nhân quả Granger tìm thấy tác động một chiều của tiêu thụ điện tác động đến tăng trưởng kinh tế. Chúng tôi tìm thấy bằng chứng thống kê là tiêu thụ điện có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cả trong ngắn hạn và dài hạn. Kết quả này gợi ý cho các cơ quan quản lý cần có chiến lược đầu tư cho lĩnh vực điện và phát triển các nguồn năng lượng mới thay thế để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong tương lai.
6 Tự chủ đại học ở Việt Nam : thực trạng và giải pháp / Phạm Thị Huyền, Lê Trung Thành // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 23-32 .- 332.1
Tự chủ đại học trở thành xu hướng tất yếu hiện nay. Đã có nhiều văn bản, chính sách nhằm thúc đẩy quá trình tự chủ của các cơ sở giáo dục công lập. Đặc biệt Nghị quyết 77/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24/10/2014 về “Thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017” được xem là bước đột phá cho tiến trình tự chủ hóa các cơ sở giáo dục công lập. Sau 3 năm thực hiện, các cơ sở giáo dục được giao thí điểm đã có những đánh giá tích cực về chủ trương đúng đắn này. Tuy nhiên, do chính sách chưa đồng bộ và sự vào cuộc chưa thực sự mạnh mẽ của các cơ quan có liên quan, việc áp dụng còn nhiều vướng mắc. Kết quả nghiên cứu với các trường đã được giao tự chủ cho thấy những nội dung chính sách cần thay đổi, từ Luật Giáo dục đại học, các thông tư, hướng dẫn liên quan tới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Việc đồng bộ hóa chính sách là hết sức cần thiết để các cơ sở giáo dục đại học công lập thực sự tự chủ, nâng tầm giáo dục đại học ở Việt Nam và giảm gánh nặng ngân sách nhà nước cho giáo dục.
7 Lợi thế so sánh bộc lộ của Việt Nam và các nước ASEAN trong bối cảnh hội nhập quốc tế / Nguyễn Bình Dương // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 33-41 .- 332.1
Kể từ khi Việt Nam mở cửa kinh tế và tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam đã có sự thay đổi theo hướng tích cực, từ xuất khẩu các mặt hàng nguyên liệu thô, sơ chế sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Bài viết này nghiên cứu lợi thế so sánh bộc lộ (RCA) của Việt Nam và các nước ASEAN trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đồng thời phân tích sự thay đổi của chỉ số RCA trong 9 nhóm hàng cơ bản theo tiêu chuẩn SITC- Rev 3. Bên cạnh đó, bài viết cũng phân tích chỉ số RCA trong một số sản phẩm tiêu biểu như gạo, rau quả, cà phê, thủy sản, may mặc, giày dép. Thông qua việc phân tích cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của các ngành định hướng xuất khẩu, bài viết đề xuất một số giải pháp để Việt Nam củng cố hơn nữa những ngành có lợi thế truyền thống và khai thác được tiềm năng của những ngành có lợi thế trong tương lai.
8 Phân tích tác động FDI đến phúc lợi xã hội: Dẫn chứng từ các quốc gia châu Á / Đinh Hồng Linh, Trần Văn Nguyện // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 42-51 .- 330.124
Tập trung làm rõ tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến phúc lợi xã hội tại các nước châu Á giai đoạn 1990 – 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân bổ không đồng đều trong mối quan hệ giữa FDI và chỉ số phát triển con người (HDI) giữa các quốc gia. Trong đó, việc thu hút dòng vốn FDI cao không đảm bảo có sự tác động tích cực tới HDI của quốc gia đó. Hơn nữa, nghiên cứu của chúng tôi cung cấp bằng chứng về mối quan hệ ngược chiều giữa FDI với tăng trưởng trong phúc lợi xã hội, được đo lường thông qua chỉ tiêu HDI. Bên cạnh đó, thu hút FDI dù có tác động tiêu cực tới chỉ số về giáo dục, chỉ số thu nhập và chỉ số y tế của nhóm các quốc gia trong khu vực, nhưng các kết quả này không có ý nghĩa về mặt thống kê.
9 Môi trường thể chế quốc gia và lợi tức cổ phiếu trong các thương vụ sáp nhập và mua lại : nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia Đông và Đông Nam Á / Hoàng Dương Việt Anh, Đặng Hữu Mẫn // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 52-61 .- 332.63
Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường thể chế quốc gia đến lợi tức cổ phiếu của các doanh nghiệp mục tiêu trong hoạt động mua lại doanh nghiệp dựa trên một mẫu tất cả các thương vụ tại 8 nước Đông và Đông Nam Á, trong giai đoạn 14 năm từ 2000 đến 2013. Thông qua việc sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện và hồi quy chéo, bài báo cho thấy chất lượng điều hành của chính phủ, mức độ bảo vệ nhà đầu tư, mức độ tự do di chuyển vốn, thuế thu nhập doanh nghiệp và tỷ giá hối đoái là những yếu tố quyết định đến lợi tức của các công ty mục tiêu. Cụ thể, các cổ đông của các công ty mục tiêu có xu hướng nhận được lợi tức lớn hơn nếu các công ty mục tiêu hoạt động ở các quốc gia có chất lượng điều hành của chính phủ cao hơn, mức độ bảo vệ nhà đầu tư mạnh hơn, ít kiểm soát di chuyển vốn, thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn và giá trị tiền tệ cao hơn so với quốc gia của công ty thâu tóm. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của môi trường thể chế của quốc gia nhận đầu tư là một trong những yếu tố quyết định đến lợi tức cổ phiếu của công ty mục tiêu thay vì sự khác biệt trong môi trường thể chế giữa quốc gia tiếp nhận và quốc gia chủ đầu tư.
10 Hoàn thiện chính sách chế biến sâu nông sản : nghiên cứu điển hình với các ngành hàng lúa gạo, cao su và cá tra / Trần Đình Thao, Nguyễn Phượng Lê, Đỗ Thị Diệp // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 62-71 .- 330
Chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng của nông sản là một chiến lược ưu tiên trong thực hiện tái cơ cấu nền nông nghiệp. Nghiên cứu điển hình ở các ngành hàng lúa gạo, cao su và cá tra cho thấy Chính phủ đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến nông sản như đất đai, tín dụng, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và xúc tiến thương mại. Nhờ tác động tích cực của các chính sách này, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của nước ta đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, các chính sách trên chưa đủ mạnh để thúc đẩy chế biến nông sản, cụ thể là: (i) Chưa khuyến khích trực tiếp chế biến sâu nông sản; (ii) Nội dung khuyến khích chế biến nông sản còn chung chung; (iii) Chưa có sự thống nhất giữa chủ trương và giải pháp, chưa cân đối giữa mục tiêu và nguồn lực thực hiện. Do vậy, để thúc đẩy chế biến sâu nông sản, có cơ chế hỗ trợ đặc thù đối với người sản xuất.