Trình bày ba phương pháp hồi quy với dữ liệu bảng: phương pháp random effect (REM), phương pháp fixed effects (FEM), phương pháp pooled OLS nhằm đo lường các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bài viết này nghiên cứu liệu người dân có vị thế xã hội và sống ở khu vực khác nhau có ảnh hưởng tới việc đưa hối lộ khi sử dụng dịch vụ công. Sử dụng số liệu từ Khảo sát Phong vũ biểu tham nhũng toàn cầu Việt Nam, nghiên cứu chỉ rõ những người có địa vị xã hội thấp như có thu nhập thấp, người thuộc nhóm thiểu số có xác suất đưa hối lộ cao hơn, và người dân có khoảng tự do quyết định lớn hơn lại gắn chặt hơn với việc đưa hối lộ. Nghiên cứu cũng phát hiện những người dân sống ở khu vực nông thôn nơi văn hóa làng xã, họ hàng đan xen, những người sống ở nơi chấp nhận việc tố cáo tham nhũng thì có xác suất đưa hối lộ thấp hơn; trong khi người dân sống ở địa phương có khoảng tự do chính sách lớn thì đưa hối lộ nhiều hơn. Kết quả nghiên cứu cung cấp những dẫn chứng thực nghiệm phục vụ cho việc xây dựng và thực hiện chính sách chống tham nhũng ở Việt Nam.
Bài nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của tham nhũng và chênh lệch tham nhũng đến việc thu hút dòng vốn FDI của 31 nước Châu Á từ 2005 – 2014. Bài viết đã sử dụng các phương pháp ước lượng dành cho dữ liệu bảng như là POLS, FEM, REM. Bên cạnh đó, bài viết cũng sử dụng phương pháp ước lượng GMM để kiểm tra tính vững của mô hình. Kết quả thực nghiệm cho thấy tham nhũng gây cản trở tới việc thu hút dòng vốn FDI. Hơn nữa, đối với các nước tiếp nhận vốn FDI nếu có mức độ tham nhũng cao hơn so với các nước đầu tư sẽ dẫn đến dòng vốn FDI giảm xuống, tuy nhiên, kết quả thực nghiệm cũng chưa cung cấp minh chứng rõ ràng về việc khi tham nhũng ở nước tiếp nhận thấp hơn nước đầu tư thì dòng vốn FDI vào sẽ tăng lên hay không.
Bài viết sử dụng giá đóng cửa hàng ngày để tính toán tỷ suất sinh lợi theo ngày của thị trường chứng khoán sáu quốc gia Đông Nam Á gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Chuỗi tỷ suất sinh lợi được ký hiệu hóa và tính toán Shannon entropy để tìm bằng chứng cho vấn đề tính hiệu quả thông tin trên các thị trường chứng khoán tương ứng. Kết quả cho thấy thị trường chứng khoán của sáu quốc gia này đều không đạt được trạng thái hiệu quả thông tin, nghĩa là bác bỏ giả thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu. Theo đó, Indonesia là quốc gia có mức độ hiệu quả thông tin cao nhất trong khi Việt Nam đứng ở vị trí cuối cùng khi xét trên toàn bộ chuỗi số liệu từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 12 năm 2016, cũng như khi xét trong giai đoạn trước khủng hoảng và sau khủng hoảng kinh tế. Trong khi đó, Singapore là quốc gia có mức độ hiệu quả thông tin ổn định nhất ở cả ba giai đoạn trước, trong và sau khủng hoảng.
Bài viết này nghiên cứu thực trạng thị trường bất động sản tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm ra các yếu tố làm bất ổn thị trường và từ đó đề xuất các giải pháp pháp triển thị trường bất động sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố thể hiện sự bất ổn thị trường chính là sự biến động về giá bất động sản. Nguyên nhân sự bất ổn này có nhiều nhưng chủ yếu do sự thiếu minh bạch về thông tin, chính sách quy hoạch và quản lý thị trường chưa tốt. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số giá tiêu dùng, dư nợ cho vay bất động sản, chỉ số giá vàng là các yếu tố gây nên sự biến động về giá bất động sản.
Nghiên cứu kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến lợi nhuận với mẫu gồm 140 quan sát từ 20 ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu là phân tích hồi quy và phương trình hồi quy với tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sỡ hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM). Với mô hình dữ liệu bảng, việc kiểm định nhằm lựa chọn mô hình phù hợp thông qua kiểm định F-test và Hausman Test; từ đó, lựa chọn Pooled, mô hình hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Kết quả cho thấy có 7 nhân tố tác động đến kết quả lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Các nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam là hoạt động quản trị rủi ro ngân hàng, chính sách và biện pháp quản trị thanh khoản, huy động vốn của ngân hàng, mở rộng quy mô, đa dạng hóa sản phẩm ngân hàng.
Mua sắm xã hội trực tuyến là một xu hướng đang thịnh hành trên toàn thế giới. Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá các nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định và hành vi tham gia mua sắm xã hội trực tuyến của người tiêu dùng tại Việt Nam. Để thực hiện điều này, nghiên cứu sử dụng lý thuyết hành vi dự định (TPB) làm cơ sở lý thuyết và tích hợp biến số quy chuẩn hình mẫu (descriptive norms) vào mô hình TPB nhằm gia tăng sức mạnh giải thích của mô hình nghiên cứu. Kỹ thuật SEM với phần mềm AMOS được áp dụng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Kết quả phân tích chứng tỏ sức mạnh giải thích của TPB trong bối cảnh mua sắm xã hội trực tuyến mặt hàng thời trang và việc bổ sung quy chuẩn hình mẫu làm gia tăng đáng kể biến thiên giải thích được của ý định và hành vi. Hơn nữa, các giả thuyết đều được ủng hộ bởi dữ liệu, vì vậy, nghiên cứu có những hàm ý quan trọng về mặt học thuật và thực tiễn.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định sử dụng công cụ tài chính phái sinh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam. Mẫu nghiên cứu gồm 592 doanh nghiệp niêm yết có hoạt động xuất nhập khẩu trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam. Dựa trên kết quả hồi quy, 3 yếu tố tác động thuận chiều đến quyết định sử dụng sử dụng công cụ tài chính phái sinh gồm Hệ số giá ghi sổ trên giá thị trường, Quy mô của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, và Đòn bẩy tài chính. Ngược lại, Hệ số thanh toán nhanh, và Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) có ảnh hưởng ngược chiều. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đưa ra nhằm thúc đẩy sử dụng các công cụ tài chính phái sinh đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Nghiên cứu kiểm định quá trình thu nhận tri thức khởi nghiệp thông qua mạng xã hội bằng mô hình xem xét kỹ lưỡng (Elaboration likelihood model - ELM) theo hướng trung tâm và hướng ngoại vi. Kết quả phân tích từ 438 sinh viên bằng công cụ PLS-SEM cho thấy yếu tố chất lượng kinh nghiệm khởi nghiệp (hướng trung tâm) và yếu tố nguồn gốc kinh nghiệm (hướng ngoại vi) có tác động cùng chiều đối với nhận thức, thái độ và tư duy khởi nghiệp. Đồng thời, yếu tố gắn kết khởi nghiệp đóng vai trò điều tiết (nhóm) có tác động: (1) cùng chiều lên mối quan hệ giữa chất lượng kinh nghiệm khởi nghiệp đến nhận thức sự hữu ích; (2) cùng chiều lên mối quan hệ giữa chất lượng kinh nghiệm khởi nghiệp đến thái độ; (3) ngược chiều lên mối quan hệ giữa nguồn gốc kinh nghiệm đến nhận thức sự hữu ích. Nghiên cứu cũng đưa ra đóng góp về học thuật và thực tiễn. Cuối cùng đưa ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.