CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Nghiên cứu trạng thái ứng suất và biến dạng trong mặt đường cứng sân bay bằng phần mềm ABAQUS / ThS. Phan Việt Hùng // Cầu đường Việt Nam .- 2018 .- Tr. 38-41 .- Tr. 38-41 .- 624
Trình bày các nghiên cứu trạng thái ứng suất và biến dạng của mặt đường cứng sân bay bằng phương pháp phần tử hữu hạn với sự trợ giúp của phần mềm ABAQUS để giải bài toán tìm ứng suất và biến trong tấm bê tông cho bài toán phẳng 2D và bài toán không gian 3D để theo dõi, kiểm soát ứng suất trong tấm bê tông ở tất cả các điểm tại các vị trí đặt tải trọng khác nhau.
2 Nghiên cứu thực nghiệm về bê tông cát đầm lăn trong xây dựng đường ô tô ở Việt Nam / PGS. TS. Nguyễn Thanh Sang, ThS. Trương Văn Quyết, KS. Phạm Minh Trang // Cầu đường Việt Nam .- 2018 .- Số 6 .- Tr. 42-45 .- 624
Trình bày các nghiên cứu về vật liệu, thiết kế thành phần, nghiên cứu thực nghiệm một số tính chất của bê tông cát đầm lăn sử dụng cát nghiền, cát mịn và tro bay. Các đặc trưng cơ học của bê tông cát đầm lăn trong nghiên cứu này là cường độ chịu nén, cường độ ép chẻ và mô đun đàn hồi. Các kết quả thực nghiệm của nghiên cứu là cơ sở để thực hiện các dự án thử nghiệm và ứng dụng trong xây dựng đường ô tô ở Việt Nam.
3 Phân tích, so sánh các phương pháp thiết kế kết cấu áo đường mềm theo Tiêu chuẩn ODN 218.046-01 (LB Nga) và hướng dẫn của AASHTO – 1993 (Mỹ) / TS. Dương Tất Sinh // Cầu đường Việt Nam .- 2018 .- Số 7 .- Tr. 6-7 .- 624
Phân tích, so sánh các phương pháp thiết kế kết cấu áo đường mềm theo Tiêu chuẩn ODN 218.046-01 của Liên bang Nga và theo Hướng dẫn của AASHTO 1993, chỉ ra các thuận lợi và khó khăn khi áp dụng các phương pháp trên. Bên cạnh đó, đề cập đến một số các tồn tại hiện nay trong thiết kế và xây dựng kết cấu áo đường bê tông asphalt ở Việt Nam. Mục đích là để góp phần nhìn nhận khách quan trong lựa chọn phương pháp thiết kế kết cấu áo đường mềm.
4 Ứng dụng mô hình FSUM-3D để mô phỏng dòng chảy và dự báo xói cục bộ trụ cầu trên sông Nậm Ty, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La / TS. Nguyễn Viết Thanh, Nguyễn Đức Phong // Cầu đường Việt Nam .- 2018 .- Số 7 .- Tr. 13-18 .- 624
Giới thiệu phương pháp mô phỏng số để nghiên cứu sự thay đổi dòng chảy và xói cục bộ xung quanh trụ cầu trên sông Nậm Ty, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Mô hình mô phỏng sử dụng phương pháp vi phân hữu hạn giải phương trình Navier-Stockes trung bình Reynolds đối với dòng chảy 3 chiều. Các nguyên nhân gây xói cục bộ cũng được thể hiện trong kết quả mô phỏng như đường dòng trước trụ, hố xói, cột xoáy sau trụ.
5 Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật của dầm cầu bê tông cốt thép dự ứng lực nhịp giản đơn nhằm hướng tới cải thiện hạ thấp chiều cao và gia tăng khẩu độ nhịp / TS. Đặng Việt Đức, PGS. TS. NCVCC. Đặng Gia Nải // Cầu đường Việt Nam .- 2018 .- Số 7 .- Tr. 19-25 .- 624
Nghiên cứu khảo sát với trường hợp cấu tạo thêm 2 cặp bản ghép có kích cỡ tương ứng 200x35 và 100x35 (mm) vào vùng bầu trên của dầm 133m căng sau; và 2 trường hợp tăng cường thêm hệ thống dự ứng lực ngoài vào kết cấu nhịp.
6 Tài chính vi mô với mục tiêu giảm nghèo tại Việt Nam / Bùi Văn Trịnh, Đoàn Thị Thanh Hòa // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 254 tháng 08 .- Tr. 2-9 .- 332.1
Khu vực tài chính vi mô có vai trò ngày càng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế nói chung và công cuộc xóa đói, giảm nghèo nói riêng. Tuy nhiên, thành công trong quá trình hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Thời gian qua, dưới tác động của nhiều yếu tố như quy định chưa phù hợp, rủi ro cao, khả năng sinh lợi thấp, năng lực quản lý hạn chế,… đã dẫn đến hoạt động của khu vực này còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, cùng với sự quan tâm, hỗ trợ từ Chính phủ để giải quyết các vấn đề xã hội như nghèo đói; chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn;… đã và đang mở ra lối đi mới cho sự phát triển của khu vực này tại Việt Nam. Vì thế, bài viết này nhằm phác họa những đóng góp của khu vực tài chính vi mô vào mục tiêu giảm nghèo bền vững tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp để các tổ chức này ngày càng phát triển ổn định hơn.
7 Khoảng cách thu nhập theo giới của lao động làm công ăn lương tại Việt Nam giai đoạn 2012-2014 / Nguyễn Hoàng Oanh, Hoàng Thu Hằng // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 254 tháng 08 .- Tr. 10-20 .- 330
Hiện nay, tình trạng chênh lệch thu nhập theo giới còn rất phổ biến, đặc biệt ở những nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Điều này dẫn tới tình trạng các nguồn lực và các lợi ích phát triển được phân phối một cách phi hiệu quả và không công bằng, gây cản trở tăng trưởng bền vững. Bài viết này sử dụng phương pháp phân rã Blinder-Oaxaca dựa trên bộ số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến khoảng cách thu nhập theo giới của nhóm lao động làm công ăn lương ở Việt Nam giai đoạn 2012- 2014. Kết quả thực nghiệm cho thấy có sự chênh lệch thu nhập giữa lao động nữ và nam; các yếu tố làm giảm khoảng cách thu nhập theo giới gồm khu vực thành thị − nông thôn, trình độ học vấn, ngành, nghề, hình thức sở hữu,…; các yếu tố làm gia tăng khoảng cách thu nhập theo giới gồm dân tộc, tình trạng hôn nhân và các yếu tố không quan sát được như định kiến giới và nhận thức hạn chế về bình đẳng giới của xã hội.
8 Nhận thức và sự thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân tộc thiểu số vùng núi Đông Bắc Việt Nam / Bùi Thị Minh Hằng // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 254 tháng 08 .- Tr. 21-30 .- 330
Bài viết phân tích nhận thức về biến đổi khí hậu của các hộ dân tộc thiểu số và những biện pháp mà các hộ áp dụng nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Số liệu thu thập thông qua điều tra phỏng vấn 108 hộ dân tộc Kinh và 182 hộ dân tộc thiểu số tại Bắc Kạn và Tuyên Quang. Trên cơ sở so sánh với các hộ dân tộc Kinh, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế về nguồn lực, nhận thức và sự thích ứng của các hộ dân tộc thiểu số. Cả hai nhóm hộ đều áp dụng nhiều biện pháp thích ứng khác nhau. Các biện pháp thích ứng phổ biến trong sản xuất nông nghiệp gồm thay đổi lịch canh tác, đa dạng hóa cây trồng, chuyển đổi sang cây trồng mới có khả năng thích nghi tốt hơn. Ngoài những đặc điểm kinh tế - xã hội, khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông và mức độ nhận thức về biến đổi khí hậu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp thích ứng của các hộ dân tộc thiểu số.
9 Hiệu quả kỹ thuật trong khai thác thủy sản: Trường hợp nghề câu xa bờ tại Tỉnh Khánh Hòa / Lê Kim Long, Nguyễn Đăng Đức // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 254 tháng 08 .- Tr. 31-39 .- 330
Chính phủ Việt Nam đã và đang giành nhiều hỗ trợ, như hỗ trợ dầu và tín dụng đóng mới/ hoán cải tàu công suất lớn, để phát triển các nghề cá xa bờ. Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận DEA (Data Envelopment Analysis) để tính toán hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency - TE) theo định hướng đầu vào của nghề câu xa bờ của tỉnh Khánh Hòa trong năm sản xuất 2015-2016. Kết quả cho thấy bình quân các đầu vào của sản xuất của nghề cá (công suất máy, dầu, số ngày lao động trên biển) hiện đang lãng phí ở mức 12,2%. Hoạt động của nghề câu xa bờ Khánh Hòa cho thấy yếu tố quy mô tàu đang có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả kỹ thuật. Hơn nữa, trình độ ngư dân là tương đối thấp. Để hướng đến một nghề cá xa bờ hiện đại và bền vững, các chính sách hỗ trợ hiện tại cần được rà soát lại thận trọng và đồng thời, các chính sách khuyến khích hợp tác trong sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực, điều tra về nguồn lợi và tiếp cận tín dụng chính thức cho chi phí vận hành sản xuất của nghề cá xa bờ cũng cần được chú trọng.
10 Đo lường tác động của lan toả công nghệ, phân phối lại và cạnh tranh đến năng suất các doanh nghiệp ngành chế tác Việt Nam / Phùng Mai Lan, Nguyễn Khắc Minh // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 254 tháng 08 .- Tr. 40-49 .- 658
Mục tiêu của nghiên cứu này tập trung đo lường hiệu ứng cạnh tranh từ các doanh nghiệp công nghệ cao và từ các doanh nghiệp thị phần tăng trong quá trình phân phối lại. Nghiên cứu này được cải biên từ phân rã năng suất tĩnh và động của Olley-Pakes. Áp dụng vào ngành chế tác Việt Nam giai đoạn 2012-2016, nghiên cứu đã chỉ ra hiệu ứng cạnh tranh trong quá trình phân phối lại đóng vai trò quan trọng nhất trong khi sự rút lui của các doanh nghiệp gây thiệt hại nhất tới tăng trưởng năng suất gộp của ngành. Tác động lan tỏa từ các doanh nghiệp có công nghệ cao mạnh hơn là từ các doanh nghiệp có thị phần tăng. Và khả năng học hỏi và đổi mới công nghệ trong nội bộ các doanh nghiệp chế tác Việt Nam còn rất hạn chế.