Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, nhóm tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động cơ làm việc của công nhân Công ty May Hòa Thọ Hội An, Quảng Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lương, thưởng và phúc lợi, đào tạo và phát triển, bản chất công việc, cơ hội thăng tiến, mối quan hệ với đồng nghiệp và môi trường làm việc có ảnh hưởng đến động cơ làm việc của công nhân ...
Trình bày các lập luận về chính sách cổ tức theo từng trường phái khác nhau, đồng thời, đưa ra những bình luận về từng lý thuyết và các hướng nghiên cứu về chủ đề chính sách cổ tức ở Việt Nam thời gian qua.
Tổng quan nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính; kinh nghiệm về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính các công ty niêm yết trên thế giới; kinh nghiệm cho Việt Nam.
Quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp Trung Quốc, Nhật bản và một số bài học kinh nghiệm cho quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam.
Bài viết chứng minh rằng các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thực hiện hành vi lợi nhuận nhằm tránh lỗ nhưng không thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận nhằm tránh giảm lợi nhuận; đồng thời, phát hiện ra sự thay đổi vốn lưu động là các công cụ phổ biến để nhà quản trị thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận tránh lỗ.
Sau một thập kỷ kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam đã dần điều chỉnh các yếu tố vĩ mô vào quỹ đạo ổn định. Bài viết nghiên cứu sự phá vỡ cấu trúc và tính ổn định của hàm cầu tiền ở Việt Nam giai đoạn từ tháng 12 năm 2003 đến tháng 11 năm 2017. Bằng các mô hình phân phối trễ tự hồi quy, vector tự quy, và đồng liên kết hiệu chỉnh toàn phần bình phương nhỏ nhất, kết quả cho thấy sự không ổn định của hàm cầu tiền khi xét cho toàn mẫu nghiên cứu. Với cầu tiền hẹp (M1), sự ổn định của hàm cầu tiền trước và sau khủng hoảng được xác nhận tồn tại không chỉ thông qua kiểm định tổng tích lũy của phần dư (Cumulative Sum of Recursive Residuals - CUSUM) và CUSUM bình phương mà còn vượt qua các bài kiểm tra khác như Lc, MeanF, SupF, Eigenvalue fluctuation, và Nyblom. Sự phá vỡ cấu trúc từ cuộc khủng hoảng 2008 chưa thể kết luận có ảnh hưởng đến cầu tiền rộng (M2).
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đến thay đổi giá cổ phiếu trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Sử dụng dữ liệu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán của 41 quốc gia, kết quả cho thấy cổ phiếu với tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài cao trong giai đoạn trước khủng hoảng đã trải qua suy giảm giá mạnh trong thời kỳ khủng hoảng, và ảnh hưởng là lớn hơn trên các cổ phiếu có rủi ro thanh khoản lớn. Kết quả này phù hợp với lập luận của các nghiên cứu lý thuyết rằng sở hữu nước ngoài có thể góp phần gia tăng bất ổn của thị trường trong giai đoạn khủng hoảng.