CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Phong vị ca dao và hơi hướng hiện đại trong từ ngữ thơ tình Nguyễn Bính / Phạm Thị Rơn // .- 2019 .- Số 01 (356) .- Tr. 62 – 74 .- 400
Bài viết khảo sát 110 bài thơ tình của Nguyễn Bính để tìm ra nét độc đáo, mới lạ của việc sử dụng từ ngữ trong thơ ông.
3 Việc xây dựng thư tín thương mại và thư tín thương mại tiếng Việt / Trịnh Ngọc Thanh // .- 2019 .- Số 01 (281) .- Tr. 47 - 52 .- 400
Kĩ năng soạn thảo thư tín thương mại của doanh nghiệp Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng trong giao tiếp thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng. Thư tín thương mại được xem lại công cụ giao tiếp hữu hiệu nhằm cung cấp thông tin, thuyết phục và xây dựng mối quan hệ lâu bền với đối tác nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay. Bài viết dựa trên lý thuyết phân tích thể loại nhằm đưa ra mô hình các thể loại thư tín thương mại và các nguyên tắc viết loại văn bản này để giúp công tác nghiên cứu và giảng dạy thư tín thương mại tại các trường đại học một cách có hệ thống và hiệu quả hơn.
4 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Trung ở một số tỉnh thành khu vực phía Nam theo yêu cầu đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân / Nguyễn Phước Lộc // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2019 .- Số 01 (281) .- Tr. 53 - 60 .- 400
Bài báo đề cập thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên (ĐNGV) tiếng Trung ở một số tỉnh thành khu vực phía Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Kết quả đánh giá chung về việc thực hiện các công việc liên quan đến phát triển ĐNGV tiếng Trung có điểm trung bình chung = 3,00, ứng với mức “trung bình” theo thang đo. Điều này kéo theo việc thực hiện các nội dung cụ thể trong công tác tuyển dụng, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá, quy hoạch cũng bộc lộ những hạn chế nhất định.
5 Đặc điểm dụng học của các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ ngôi trong tác phẩm “ Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng / Nguyễn Nhân Ái // .- 2019 .- Số 01 (281) .- Tr. 77 - 83 .- 401
Bài báo tập trung miêu tả, phân tích đặc điểm ngữ dụng của các đại từ nhân xưng, từ thân tộc, từ thân tộc + từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp tiếng Việt trong vai trò, chức năng là phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ ngôi trong tác phẩm “số đỏ” của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
6 Ba “ hòn đá tảng’ của phân tích diễn ngôn phê bình / Diệp Quang Ban // Ngôn ngữ .- 2018 .- Số 12 (355) .- Tr. 17 - 26 .- 400
Bài viết đề cập đến hai nội dung: Cội nguồn của các tên gọi trong ba “hòn đá tảng”; Nội dung của ba “hòn đá tảng” này trong phân tích diễn ngôn phê bình.
7 Bàn về ngôn ngữ mạng tiếng Việt / Mai Xuân Huy // Ngôn ngữ .- 2018 .- Số 12 (355) .- Tr. 42 - 57 .- 400
Bài viết bước đầu khảo sát và đưa ra nhận xét với hi vọng phác thảo một bức tranh toàn cảnh về hiện tượng ngôn ngữ khá đặc biệt này.
8 Thử áp dụng mô hình phê bình dịch thuật của gerzymisch arbogast trong việc đánh giá hàm ý của bản dịch Bà lớn về thăm và Bà tỷ phú về thăm quê / Lê Thị Bích Thuỷ // Ngôn ngữ .- 2018 .- Số 12 (355) .- Tr. 58 - 74 .- 400
Bài viết một mặt muốn giới thiệu mô hình của gerzymisch arbogast, mặt khác muốn áp dụng nó vào thực tiễn bằng cách đánh giá hàm ý ở hai bản dịch của vở hài kịch Der Besuch der alten Dame của người Thuỵ Sỹ Durrenmatt. Tác phẩm này đã được hai dịch giả Phạm Thị Hoài và Lê Chu Cầu chuyển dịch sang tiếng Việt với tiêu đề là Bà lớn về thăm và Bà tỷ phú về thăm quê.
9 Khái quát về những vấn đề cơ bản về kiểm toán theo phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính / Phạm Tiến Hưng; Nguyễn Thị Phương Thảo // Kế toán & Kiểm toán .- 2017 .- Số 1+2 .- Tr. 16-21 .- 657
Mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính là xác nhận mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính. Kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện, trên cơ sở chọn mẫu. Điều đó có nghĩa là, khi đưa ra ý kiến nhận xét cho toàn bộ báo cáo tài chính thì không đồng nghĩa với việc kiểm toán viên sẽ phải kiểm toán tất cả những thông tin ở trên đó, mà chỉ dựa trên kết quả kiểm toán trên cơ sở mẫu chọn. Do đó, mẫu kiểm phải đảm bảo tính đại diện của tổng thể và chứa đựng hầu hết những sai sotd trọng yếu. Trên thực tế, có rất nhiều phương pháp tiếp cận khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính theo phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro là phương pháp hiện đại và hợp với xu thế tất yếu, trong hoạt động kiểm toán hiện nay. Phương pháp này giúp cho kiểm toán viên đạt được mức độ hiểu biết tương đối đầy đủ về đơn vị được kiểm toán, đảm bảo xác định mẫu chọn với sự đảm bảo tính đại diện cho tổng thể, đảm bảo khối lượng kiểm toán phù hợp, đúng trọng tâm trọng điểm của kiểm toán, đạt được tính kinh tế và chất lượng trong kiểm toán. Ngoài ra, phương pháp này, thể hiện đúng bản chất nghiệp vụ kiểm toán, phù hợp với hệ thống các chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Đồng thời, giúp khắc phục được những hạn chế của phương pháp kiểm toán truyền thống, tập trung nguồn lực vào những bộ phận, nội dung trọng yếu. Do đó, việc kiểm toán báo cáo tài chính trên cơ sở rủi ro là cần thiết ở các tổ chức kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng. Để góp phần hoàn thiện các nghiên cứu về định hướng kiểm toàn báo cáo tài chính theo phương pháp tiếp cận, dựa trên rủi ro và giúp cho kiểm toán viên áp dụng phương pháp này hiệu quả hơn.
10 Phát triển nguồn nhân lực kế toán trong Khu công nghệ cao - Cơ hội và thách thức khi gia nhập TPP và AEC / Trần Mạnh Dũng; Nguyễn Thị Mỹ // Kế toán & Kiểm toán .- 2017 .- Số 1+2 .- Tr. 22-26,36 .- 657
Vào cuối năm 2015, Cộng đồng kinh tế các nước Đông Nam á (AEC) được thành lập và đã được triển khai hơn 1 năm. Cũng vào tháng 2/2016, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được ký kết tại Auckland (New Zealand) mà Việt Nam là thành viên tích cực đã mở ra rất nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam nói chung, trong đó có cả Khu Công nghệ cao. Nhiều ngành nghề bị ảnh hưởng đáng kể khi Việt Nam gia nhập TPP và AEC. Vấn đề về nguồn nhân lực, cả số lượng và chất lượng, đượccho là rất quan trọng, góp phần đáng kể đến sự thành công khi Việt Nam là thành viên. Theo đó, nguồn nhân lực trong Khu Công nghệ cao với nghiên cứu điển hình tại Đà Nẵng, được đặc biệt chú trọng và không thể không kể đến sự ảnh hưởng đáng kể về nguồn nhân lực kế toán, đang hoạt động trong khu công nghệ cao Đà Nẵng; Đánh giá thực trạng nhân sự kế toán trong Khu công nghệ cao. Để qua đó, đưa ra các khuyến nghị đối với kế toán viên, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao khi các Hiệp định thương mại song phương và đa phương có hiệu lực.