CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Tác động bất đối xứng của biến động giá dầu đến thị trường chứng khoán Việt Nam: Tiếp cận mô hình phi tuyến tính ARDL / Phạm Thị Tuyết Trinh, Võ Lê Linh Đan // Phát triển kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 9 .- Tr. 36-52 .- 658
Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng bất đối xứng của biến động giá dầu đến thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam trong ngắn và dài hạn sau khủng hoảng 2008. Sử dụng mô hình tự hồi qui phân phối trễ (ADRL) phi tuyến tính theo tiếp cận kiểm định đường bao trên dữ liệu tần suất tháng của VN-index, giá dầu Brent, chỉ số sản xuất công nghiệp và cung tiền, nghiên cứu cho thấy những kết quả quan trọng sau. Một là, trong dài hạn biến động giá dầu có ảnh hưởng ngược chiều đến TTCK Việt Nam, giá dầu tăng làm TTCK diễn biến xấu đi và giá dầu giảm làm thị trường khởi sắc. Hai là, giá dầu tăng có ảnh hưởng mạnh hơn so với giá dầu giảm phản ánh cho tính bất đối xứng của ảnh hưởng giá dầu đến thị trường trong dài hạn. Ba là, trong ngắn hạn, thị trường có phản ứng ngược chiều so với trong dài hạn.
2 Ước lượng VaR và CVaR dạng hỗn hợp các phân phối xác suất thông qua mô phỏng Monte Carlo và ứng dụng trong phân tích giá chứng khoán Việt Nam / Lê Thanh Hoa // Phát triển kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 9 .- Tr. 53-72 .- 332.64
VaR và CVaR là vấn đề được quan tâm rất nhiều trong lĩnh vực đo lường rủi ro đối với dữ liệu Tài chính. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ dừng lại ở công thức tính dựa trên xấp xỉ dữ liệu thông qua một phân phối xác suất, trong khi phân phối của dữ liệu thực thông thường có dạng hỗn hợp các phân phối xác suất. Chính vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu tính toán VaR và CVaR trong trường hợp hỗn hợp các phân phối xác suất. Hơn nữa, các tính toán cũng đòi hỏi thời gian tính toán nhanh, do đó chúng tôi ưu tiên sử dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo. Chúng tôi đề nghị thuật toán tính VaR và CVaR trong trường hợp phân phối xác suất là dạng hỗn hợp thông qua hiệu chỉnh phương pháp mô phỏng Monte Carlo cho phù hợp với dạng hỗn hợp các phân phối xác suất. Thêm vào đó, chúng tôi minh họa trong các trường hợp mô phỏng đã biết phân phối xác suất thành phần cũng như trường hợp chưa biết trước các phân phối xác suất thành phần, thông qua bộ dữ liệu thực về giá đóng cửa của chứng khoán Việt Nam bằng hỗn hợp của các phân phối. Các kết quả tính toán dựa trên thuật toán mà chúng tôi đề nghị được đánh giá thông qua xác suất đuôi cũng như độ lệch chuẩn.
3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2018 và triển vọng / Phạm Thị Thanh Bình // Ngân hàng .- 2019 .- Số 4 .- Tr. 2-7 .- 332.63
Vài nét về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2018; Một số hạn chế trong thu hút FDI và đánh giá triển vọng đầu tư nước ngoài.
4 Xác lập hợp đồng thế chấp tài sản theo Bộ Luật Dân sự / Bùi Đức Giang // Ngân hàng .- 2019 .- Số 4 .- Tr. 13-15 .- 346
Tập trung phân tích một số nét lớn của quá trình thế chấp tài sản và đề xuất một số giải pháp hạn chế các rủi ro có thể phát sinh cho các tổ chức tín dụng khi nhận thế chấp tài sản.
5 Tiếp cận tín dụng chính thức trong phát triển chuỗi giá trị nông sản: Động lực cho quá trình tái cơ cấu nông nghiệp tại khu vực Tây Bắc, Việt Nam / Đỗ Xuân Luận, Đỗ Thu Dung // Phát triển kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 10 .- Tr. 5-27 .- 658
Nghiên cứu sử dụng số liệu từ phỏng vấn 163 nông hộ và các bên liên quan nhằm phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng của nông hộ trồng măng Bát Độ ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính, kết quả cho thấy lượng tín dụng có tương quan thuận với sự gia tăng về thu nhập từ măng Bát Độ của nông hộ. Tuy nhiên, những rào cản tiếp cận tín dụng vẫn tồn tại và cản trở sự phát triển chuỗi giá trị. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra các hộ là thành viên của Hội Liên hiệp Phụ nữ và có tài sản thế chấp gặp thuận lợi hơn trong việc tiếp cận vốn vay; việc mở rộng lượng vốn vay có thể tăng thu nhập của nông hộ trong chuỗi giá trị; nâng cao năng lực của các tổ chức hội ở địa phương giúp giải quyết vấn đề thông tin bất đối xứng trong các giao dịch tín dụng ở nông thôn. Nhà nước cần đẩy mạnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để các nông hộ có thể thế chấp vay vốn và thành lập các kênh hợp tác giữa ngân hàng, nông hộ, doanh nghiệp, hợp tác xã và các bên liên quan khác nhằm kết nối cung - cầu tín dụng trong phát triển chuỗi giá trị. Ngoài ra, tiêu thụ măng Bát Độ thông qua hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp là cần thiết để giảm rủi ro thị trường, từ đó thúc đẩy cho vay theo chuỗi giá trị.
6 Quyền kiểm soát công ty mục tiêu và chênh lệch giá trong hoạt động Thôn tính và Sáp nhập (M&A) tại Việt Nam / Hồ Hồng Hải // Phát triển kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 10 .- Tr. 28-46 .- 658
Nghiên cứu này là một trong những những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam đánh giá ảnh hưởng của động lực kiểm soát công ty đến chênh lệch giá trong giao dịch mua lại và sáp nhập (M&A) trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bằng việc sử dụng kết hợp phương pháp đánh giá tác động của một sự kiện và hồi quy bội trên cơ sở dữ liệu M&A tại Việt Nam trong giai đoạn 2007–2016, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hoạt động M&A tại Việt Nam được đặc trưng bởi động cơ chiếm quyền kiểm soát công ty mục tiêu hơn là động cơ đầu tư tài chính. Kết quả này phù hợp với lý thuyết về động lực kiểm soát thay vì lý thuyết về động lực đầu tư tài chính trong hoạt động mua lại doanh nghiệp.
7 Tạo dựng lòng tin cho người tiêu dùng trực tuyến: Nghiên cứu tìm hiểu vai trò của các nguồn thông tin và tác động điều tiết của kinh nghiệm mua sắm trực tuyến / Hồ Trọng Nghĩa // Phát triển kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 10 .- Tr. 47-64 .- 658
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu vai trò tạo dựng lòng tin nhận thức (Cognitive Trust) và lòng tin cảm xúc (Affective Trust) của hai nguồn thông tin chính đối với người tiêu dùng trực tuyến: Thông tin truyền miệng từ người tiêu dùng khác (WOM) và thông tin từ đơn vị bán trực tuyến. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 503 người tiêu dùng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh, thông qua kiểm định bằng phương pháp phân tích cấu trúc tuyến tính SEM, kết quả nghiên cứu khẳng định tác động tích cực của hai loại thông tin đến lòng tin của người tiêu dùng ở cả hai thành phần là nhận thức và cảm xúc. Bên cạnh đó, lòng tin nhận thức và lòng tin cảm xúc đều giúp tăng cường ý định mua lặp lại của người tiêu dùng trực tuyến. Ngoài ra, vai trò điều tiết của kinh nghiệm mua sắm trực tuyến cũng được khẳng định từ kết quả nghiên cứu.
8 Cơ hội và thách thức của già hóa dân số cho sự phát triển bền vững của Việt Nam / Nguyễn Thị Thu Hà // Phát triển kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 10 .- Tr. 65-88 .- 330
Già hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng với đặc trưng là sự gia tăng mạnh cả về số lượng và tỷ trọng người cao tuổi trong dân số, đây cũng là xu hướng tất yếu và chứa đựng đồng thời cả cơ hội và thách thức cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam. Nhiệm vụ chính của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng không phải là cản trở hoặc loại bỏ tiến trình lịch sử này mà là phải đối mặt với thực tế của già hóa dân số, chủ động tìm ra các chiến lược và biện pháp đối phó nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển bền vững, đồng thời tối đa hóa lợi ích của già hóa dân số cũng như giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của nó. Mục tiêu chính của bài viết nhằm mô tả các đặc điểm cơ bản của tình trạng già hóa dân số ở Việt Nam, từ đó xem xét các cơ hội và thách thức đặt ra cho sự phát triển bền vững của một quốc gia. Bài viết cũng đưa ra các chính sách và biện pháp đối phó từ bốn khía cạnh quan trọng: (1) Chính sách dân số và tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực người cao tuổi; (2) Chính sách chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; (3) Cải cách hệ thống hưu trí; và (4) Tăng tốc tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia nhằm phản ứng kịp thời với sự già hóa dân số cũng như thúc đẩy sự phát triển bền vững ở Việt Nam.
9 Kinh tế Việt Nam năm 2018 và triển vọng năm 2019 / Trần Thọ Đạt, Tô Trung Thành // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 259 tháng 1 .- .- 330
Năm 2018, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 7,08%, cao nhất trong vòng hơn một thập niên vừa qua, đồng thời chất lượng tăng trưởng đã có cải thiện. Những động lực đóng góp chính vào tăng trưởng, về phía sản xuất là khu vực FDI với ngành công nghiệp chế biến chế tạo, về phía chi tiêu là tiêu dùng nội địa và thặng dư thương mại. Tuy nhiên, cải thiện môi trường kinh doanh có dấu hiệu chững lại, khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục gặp nhiều khó khăn và rào cản phát triển. Lạm phát và tỷ giá mặc dù nằm trong phạm vi điều chỉnh dự kiến, nhưng đã đương đầu nhiều sức ép, dư địa chính sách tiền tệ và tài khóa đang bị thu hẹp. Trong năm 2019 và những năm sắp tới, Chính phủ cần kiên định để có những đột phá trong cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh một cách thực chất cho khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời nâng cao khả năng chống đỡ của nền kinh tế đối với những biến động bất ổn từ thế giới.
10 Giám sát của cơ quan dân cử đối với thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội tại các tỉnh, thành phố nước ta: Thực trạng và vấn đề / Mai Ngọc Cường, Bùi Sỹ Lợi, Phạm Thị Hạnh // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 259 tháng 1 .- Tr. 17-26 .- 344.03
Từ thực tế giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các tỉnh, thành phố đối với việc thực thi chính sách pháp luật về an sinh xã hội, bài viết chỉ ra, cần tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát; tập trung hoàn thiện các quy định pháp luật để tránh trùng chéo và phù hợp thực tiễn; tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của thường trực tỉnh uỷ, thành ủy; thực hiện tái giám sát, truy đến cùng việc đối với việc thực hiện kết luận giám sát; nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động của bộ máy tham mưu giúp việc cho hoạt động giám sát; nâng cao năng lực và nhận thức của các đối tượng giám sát; đảm bảo các điều kiện thực hiện giám sát; và cần có chế tài xử lý việc thực hiện kết luận giám sát cuả Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân đối với thực thi chính sách pháp luật và an sinh xã hội.