CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Nguy cơ ô nhiễm rác thải nhựa tại các khu du lịch biển, đảo và đề xuất giải pháp giảm thiểu / Dư Văn Toán, Đặng Nguyệt Anh // .- 2019 .- Số 6 .- Tr. 36-37 .- 363.730 9 597
Trình bày nguy cơ ô nhiễm rác thải nhựa ở các khu Du lịch. Phân tích tác động của rác thải nhựa đến môi trường sinh thái biển. Đề xuất giải pháp giảm thiểu rác thải nhựa ở các khu du lịch biển.
2 Hiệu quả bảo hộ thương mại trong nền kinh tế Việt Nam – Tiếp cận từ bảng cân đối liên ngành / Hồ Đình Bảo, Nguyễn Hậu, Bùi Trinh, Trương Như Hiếu // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 2-10 .- 330.597
Nghiên cứu này thực hiện đo lường mức độ bảo hộ hữu hiệu, hệ số lan tỏa của các thành tố của cầu cuối cùng đến tổng sản lượng, giá trị gia tăng và nhập khẩu dựa trên số liệu của bảng cân đối liên ngành của Việt Nam các năm 2012-2016. Kết quả thực nghiệm cho thấy trong những năm gần đây các chính sách bảo hộ dường như chỉ đang tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, chủ yếu là gia công với giá trị gia tăng và mức độ lan tỏa đến nền kinh tế ở mức thấp. Trong khi đó mức độ bảo hộ đối với các sản phẩm nông, lâm và thủy sản nội địa – những ngành hàng được xác định là lợi thế của khu vực kinh tế trong nước - là không đáng kể. Hệ số bảo hộ hữu hiệu âm ở tất cả các ngành nông, lâm, thủy sản và các ngành phụ trợ trong khi đó hệ số này lại tăng ở một số ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản. Điều này cho thấy những người nông dân và người tiêu dùng bị thiệt hại nhiều nhất, trong khi những người hoạt động trong các khâu trung gian trong chuỗi giá trị là đối tượng được hưởng lợi từ việc cắt giảm thuế quan. Bên cạnh đó, kết quả thực nghiệm cũng cho thấy Việt Nam bảo hộ kém hiệu quả đối với tất cả các ngành hàng trong cùng dòng hàng hóa so với Trung Quốc.
3 Tăng cường phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn / Nguyễn Tiến Long // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 11-22 .- 658
Bắc Kạn là tỉnh miền núi ở vùng Đông bắc Việt Nam với vị trí địa lý thuận lợi cho hoạt động buôn bán, vận chuyển và lưu thông hàng hóa với các cửa khẩu của các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội. Trong những năm qua, tỉnh Bắc Kạn đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức quản lý, triển khai thực hiện quyết liệt các hoạt động phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh. Do vậy, tình hình buôn lậu và gian lận thương mại ở Bắc Kạn hiện nay đã giảm rất nhiều. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới buôn lậu và gian lận thương mại ở tỉnh Bắc Kạn vẫn đang diễn biến rất phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi hơn, khó kiểm soát, gây tác động xấu đến phát triển kinh tế - xã hội, bức xúc trong nhân dân. Từ thực tế trên cho thấy, tăng cường phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại ở tỉnh Bắc Kạn là rất cần thiết hiện nay.
4 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng suất lao động tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 / Nguyễn Viết Thành, Lê Văn Đạo, Phí Mạnh Hồng // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 23-33 .- 332.63
Bài nghiên cứu này đánh giá mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến việc nâng cao năng suất lao động, trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nhân tố quan trọng. Căn cứ trên cách tiếp cận của Kumar & Russell (2002), thay đổi năng suất lao động được phân rã làm 3 thành phần: (i) Thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC); (ii) Thay đổi công nghệ chung (TC); (iii) Tăng trưởng vốn (KD). Trong khi, nhân tố tăng trưởng vốn (KD) đóng góp cho sự gia tăng năng suất trong giai đoạn đầu thì tăng trưởng công nghệ là chìa khóa của tăng trưởng bền vững. Nghiên cứu áp dụng tại Việt Nam cho giai đoạn 2011-2015 cho thấy có mối quan hệ tương quan giữa dòng vốn FDI và thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC) trong việc nâng cao năng suất lao động. Bài nghiên cứu đưa ra một số chính sách quan trọng nhằm hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam.
5 Mối quan hệ giữa tự chủ trong công việc, sở hữu tâm lý đối với công việc và hành vi cải tiến tại các doanh nghiệp ở Việt Nam / Phạm Thu Trang, Mai Thế Cường, Phạm Thuỳ Giang // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 34-42 .- 658
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm tìm ra mối quan hệ giữa tự chủ trong công việc, sở hữu tâm lý đối với công việc và hành vi cải tiến. Kết quả khảo sát 432 người trả lời bảng hỏi cho thấy tự chủ trong công việc tác động tích cực đến sở hữu tâm lý đối với công việc, sau đó sở hữu tâm lý đối với công việc tác động tích cực đến hành vi cải tiến. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sở hữu tâm lý đối với công việc là biến trung gian hoàn toàn cho mối quan hệ giữa tự chủ trong công việc và hành vi cải tiến. Bài báo kết thúc bằng thảo luận và hạn chế của nghiên cứu.
6 Hiệu ứng Momentum, hiệu ứng đảo ngược ngắn hạn - Nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Võ Xuân Vinh, Võ Văn Phong // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 43-54 .- 332.64
Bài báo này xem xét sự tồn tại của hiệu ứng đảo ngược ngắn hạn, hiệu ứng momentum trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2017, bằng cách sử dụng phương pháp phân tích danh mục và phương pháp hồi quy dữ liệu chéo Fama-MacBeth. Kết quả cho thấy các cổ phiếu có tỷ suất sinh lợi lũy tích cao hơn trong 06 tháng gần nhất thì có tỷ suất sinh lợi cao hơn trong tháng kế tiếp đó. Kết quả này hàm ý sự tồn tại của hiệu ứng momentum ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chiến lược đầu tư theo hiệu ứng momentum ngắn hạn mang lại lợi nhuận khoảng 1,1% đến 1,3% mỗi tháng. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu lại không cung cấp bằng chứng ủng hộ sự tồn tại của hiệu ứng đảo ngược ngắn hạn, hiệu ứng momentum trung hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
7 Việc làm công phi chính thức và bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình ở Việt Nam / Trần Quang Tuyến // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 4 .- Tr. 55-65 .- 330
Sử dụng bộ dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2016, kết hợp với phương pháp phân tách bất bình đẳng theo nguồn thu nhâp, nghiên cứu này đã lượng hóa đóng góp của thu nhập từ viêc làm công phi chính thức tới bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam. Kết quả chỉ ra rằng thu nhâp từ làm công phi chính thức làm giảm bất bình đẳng ở cả thành thị và nông thôn, cũng như ở tám vùng địa lý của Việt Nam. Tác động tương tự cũng được tìm thấy ở nguồn thu nhâp từ nông nghiệp. Trong khi đó, thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp tự làm làm gia tăng đáng kể bất bình đẳng ở tất cả các vùng. Thu nhập từ làm công chính thức làm tăng nhiều tới bất bình đẳng ở mọi vùng, ngoại từ vùng Đông Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu cung cấp một số hàm ý chính sách về giảm nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam.
8 Cảm xúc tiêu cực của du khách nước ngoài khi đến Việt Nam: Nguyên nhân và hậu quả về mặt hành vi / Lê Nhật Hạnh // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 66-76 .- 658.812
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các trạng thái cảm xúc tiêu cực mà du khách nước ngoài gặp phải, nguyên nhân chính cũng như các hành vi phản ứng sau khi trải nghiệm cảm xúc tiêu cực. Phương pháp tiếp cận PLS-SEM (Partial Least Squares - Structural Equation Modeling) được dùng để kiểm định mô hình nghiên cứu với mẫu điều tra là 329 khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Kết quả cho thấy ‘mức độ nghiêm trọng của lỗi dịch vụ’ và ‘nhận định không xác thực’ có tác động làm tăng cảm xúc tiêu cực của khách du lịch. Trong khi đó ‘nỗ lực sửa đổi’ có tác dụng làm giảm các cảm xúc tiêu cực. Cảm xúc tiêu cực có tác động mạnh nhất đến ‘truyền miệng tiêu cực’, tiếp theo là ‘ý định tẩy chay’, và cuối cùng là ‘phàn nàn’. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để đưa ra hàm ý quản trị cho doanh nghiệp kinh doanh du lịch nói riêng cũng như đề xuất gợi ý chính sách cho cơ quan quản lý du lịch nói chung.
9 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số / Lê Thị Anh Vân // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 77-85 .- 330
Bài viết tập trung phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ đối với vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, bao gồm: các chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng; chính sách tín dụng hộ nghèo; các chính sách hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, cung cấp dịch vụ... và hỗ trợ trực tiếp, các chính sách hỗ trợ theo nhóm đối tượng, có chính sách chung và chính sách đặc thù. Các chính sách được phân tích trong giai đoạn 2016-2018. Quá trình thực hiện các chính sách này đã góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào vùng dân tộc thiểu số, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những hạn chế, bất cập từ việc hoạch định đến tổ chức thực thi các chính sách này. Do đó, bài viết đề xuất một số định hướng và khuyến nghị giải pháp đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số trong thời gian tới.
10 Phân rã thương mại nội ngành trong ngành da giày giữa Việt Nam và Trung Quốc / Nguyễn Bình Dương // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 86-95 .- 658
Ngành da giày là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, góp phần tạo công ăn việc làm và đem lại nguồn ngoại tệ cho đất nước. Mặc dù là ngành xuất khẩu mũi nhọn, trên thị trường nội địa Việt Nam, phần lớn giày dép được nhập khẩu từ Trung Quốc. Bài viết này nhằm nghiên cứu thương mại nội ngành ngành da giày của Việt Nam và Trung Quốc, và thực hiện phân rã thương mại nội ngành theo chiều dọc và theo chiều ngang. Thông qua việc phân tích chỉ số thương mại nội ngành theo chiều ngang (HIIT) và thương mại nội ngành theo chiều dọc (VIIT) cho ngành da giày, trong các mặt hàng cơ bản theo tiêu chuẩn Danh mục phân loại thương mại quốc tế tiêu chuẩn, bản sửa đổi lần thứ 3 (SITC-Rev 3), kết quả cho thấy phần lớn thương mại nội ngành trong ngành da giày giữa Việt Nam và Trung Quốc là thương mại nội ngành theo chiều dọc. Việt Nam xuất siêu sang Trung Quốc ở một số sản phẩm như giày mũ các loại, và da trâu thuộc. Tuy nhiên, đối với hầu hết các nguyên vật liệu đầu vào, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc. Phần cuối của bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách để Việt Nam vượt qua các thách thức nhằm phát triển ngành da giày hơn nữa trong tương lai.