Bài viết trình bày những vấn đề lý luận chung về hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, từ quá trình hình thành và phát triển, những đặc trưng cơ bản cho đến xu hướng đàm phán, ký kết FTA trong tương lai. Bên cạnh việc phân tích những điểm “mới”của các FTA này so với FTA thế hệ trước, bài viết cũng chỉ ra rằng, trong bối cảnh các cuộc đàm phán tự do hoá thương mại đa biên đang lâm vào bế tắc như hiện nay, việc ký kết FTA thế hệ mới có thể được xem là giải pháp cho những mong muốn được hội nhập sâu và rộng hơn nữa vào nền kinh tế toàn cầu của các nước thành viên WTO.
Nghiên cứu này khác với các nghiên cứu về hiệu quả ở chỗ sử dụng hàm khoảng cách ngẫu nhiên đối ngẫu để xác định hiệu quả. Cũng bằng cách tiếp cận khác với cách xác định lan tỏa công nghệ đang được sử dụng phổ biến, bài viết này xây dựng cơ sở phương pháp luận cho việc xác định tập hợp các doanh nghiệp có khả năng lan tỏa công nghệ tốt nhất. Áp dụng hai tiếp cận này vào ngành dệt may Việt Nam, kết quả cho thấy ảnh hưởng của lan tỏa công nghệ mang lại hiệu ứng tốt nhất ở nhóm doanh nghiệp có giá trị hàm khoảng cách công nghệ nhỏ nhất (có hiệu quả cao nhất) trong khi nhóm doanh nghiệp có giá trị hàm khoảng cách công nghệ lớn nhất chỉ được hưởng lợi từ kênh lan tỏa ngược và ngược cung.
Trên thế giới mô hình doanh nghiệp xã hội đã chứng minh được vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững và công bằng xã hội. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội mới bắt đầu được hình thành nhằm thúc đẩy sự phát triển của mô hình này. Một số cơ quan/tổ chức nhà nước và tư nhân tham gia hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội và tạo ra những hoạt động thiết thực nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế và vấp phải nhiều khó khăn thách thức. Bài viết này là kết quả nghiên cứu thực trạng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay với năm cấu phần cơ bản là: chính sách - pháp lý, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ trung gian, đào tạo - nghiên cứu và truyền thông. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Sự gia tăng tầng lớp trung lưu có thể coi là những dấu hiệu tích cực ở các nước đang phát triển. Mặc dù vậy, bài viết phân tích sự gia tăng này phải phụ thuộc vào hai yếu tố ở từng nước đó là: có tỷ lệ dân số phù hợp không chỉ cao hơn chuẩn nghèo mà còn đủ cao để tạo thành một tầng lớp trung lưu ổn định về thu nhập, và tầng lớp trung lưu ngày càng lớn hơn và giàu hơn do tăng trưởng kinh tế trong vòng vài thập niên tới. Nói cách khác, tầng lớp trung lưu phải đủ lớn, và phải tiếp tục giàu có hơn và lớn hơn, như đã từng phát triển trong 15 năm qua, để đảm bảo vai trò tích cực của tầng lớp này đối với các vấn đề quản trị và chính sách công.
Nghiên cứu nhằm ước lượng mối liên kết giữa dòng vốn ,FDI và năng suất lao động tại năm quốc gia Đông Nam Á (ASEAN-5) thông qua việc kết hợp các phương pháp kiểm định quan hệ nhân quả Granger. Phát hiện chính của nghiên cứu cho thấy rằng không có mối liên kết nhân quả dài hạn giữa năng suất lao động và dòng vốn FDI ở cả 5 quốc gia được nghiên cứu. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ có mối liên kết thuận chiều từ năng suất lao động đến dòng vốn FDI tại Philippines. Trong khi đó, tại các quốc gia bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Malaysia, dòng vốn FDI có tác động tích cực trong ngắn hạn đến năng suất lao động.
Bài viết tập trung phân tích một số thách thức đối với Việt Nam khi chuyển hoá các hiệp định thương mại tự do (FTA) nói chung và các FTA thế hệ mới nói riêng vào nội luật. Các thách thức này liên quan đến nội dung của Điều 6 khoản 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 – cơ sở pháp lý để chuyển hoá FTA vào nội luật và từ chính thực tiễn chuyển hoá FTA vào các quy định trong nước. Đây là những vấn đề mà Việt Nam cần quan tâm giải quyết để đảm bảo tuân thủ đầy đủ các cam kết của mình trong FTA.
Mục đích chính của bài viết này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Đông Bắc Á, qua đó đánh giá tiềm năng thương mại giữa hai bên. Kết quả ước lượng với mô hình trọng lực mở rộng bằng phương pháp PPML giai đoạn 2001-2017 cho thấy quy mô nền kinh tế mức độ phát triển thị trường, tỷ giá hối đoái, khoảng cách kinh tế và các dạng thức của hiệp định thương mại tự do có tác động lớn đến thương mại giữa Việt Nam và Đông Bắc Á. Trong khi đó, sự gần kề về địa lý và thành viên của WTO không trợ giúp cho các hoạt động thương mại song phương. Đối với tiềm năng thương mại, Việt Nam gần như tiệm cận giới hạn khả năng đối với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Hồng Công, tuy nhiên vẫn còn nhiều không gian phát triển đối với Đài Loan.
Quan hệ giữa lao động và thương mại quốc tế được điều chỉnh như thế nào trong luật thương mại quốc tế? Để trả lời câu hỏi này, trước hết tác giả sẽ xem xét khuynh hướng điều chỉnh mối quan hệ trên trong luật thương mại quốc tế nói chung; sau đó nghiên cứu việc điều chỉnh mối quan hệ này qua ví dụ điển hình là Chương 13 dự thảo EVFTA.
Mô phỏng và thực nghiệm ứng xử của liên kết nối ống thép tròn sử dụng mặt bích và bulông chịu uốn cắt đồng thời và kiến nghị tỷ lệ kích thước hợp lý cho đường kính bulông, mặt bích và ống thép.
Trình bày một cách tính toán hệ kết cấu vòm chịu tác dụng tỉnh theo phương pháp nguyên lý cực trị Gauss do GS TSKH Hà Huy Cương đề xuất và được nhiều học trò của ông áp dụng thành công trong các nghiên cứu tính toán kết cấu công trình.