Bài viết phân tích tác động của quyền sở hữu trí tuệ (IPR) đối với sự tăng trưỏng kinh tế của 14 nước Châu á dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 2007 đến năm 2013, đây là những quốc gia có chỉ số về quyền sở hữu trí tuệ tại Châu á. Kết quả nghiên cứu từ mô hình hồi quy bằng phương pháp bình phương tối thiểu (OLS) và dường như không liên quan (cross-section SUR) cho thấy quyền sở hữu trí tuệ có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước này, trong đó có Việt Nam. Kết quả này phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, khi các dòng vốn tự do lưu thông giữa các quốc gia, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một trong những yếu tố khuyết khích đầu tư, phát minh và chuyển giao công nghệ, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết đưa ra kiến nghị về Quyền sở hữu trí tuệ và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Sử dụng dữ liệu về hạnh phúc từ 126 nước trong giai đoạn 2009-2016, nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tách bất bình đẳng bằng hồi quy để xem xét đóng góp của các nhân tố tới bất bình đẳng hạnh phúc trên thế giới. Kết quả cho thấy mô hình phân tích giải thích được khoảng 70 phần trăm biến động của bất bình đẳng hạnh phúc trong thời gian nên trên. Trong đó, mức thu nhập bình quân đầu người có đóng góp nhiều nhất, chiếm tới 40 phần trăm tổng bất bình đẳng. Các nhân tố xã hội khác như hỗ trợ xã hội (khả năng nhận hỗ trợ từ bạn bè hay người thân khi gặp khó khăn), mức độ tự do lựa chọn cuộc sống và sự hào phóng (cho tiền từ thiện) lần lượt đóng góp khoảng 17 phần trăm, 8 phần trăm và 3 phần trăm tới tổng bất bình đẳng hạnh phúc. Tham nhũng và bất bình đẳng thu nhập cũng có đóng góp nhỏ tới bất bình đẳng hạnh phúc (4 phần trăm và 2 phần trăm). Bài viết đưa ra hàm ý chính sách góp phần gia tăng hạnh phúc cho các nước ít hạnh phúc hơn và qua đó giảm thiểu bất bình đẳng về hạnh phúc giữa các nước trên thế giới.
Bộ Nông nghiệp & Phát triên Nông thôn ban hành quy trình chăn nuôi VietGAHP (năm 2008) và sổ tay VietGAHP (năm 2013) làm cơ sở cho người chăn nuôi lợn áp dụng. Nhiều hộ nông dân ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã áp dụng quy trình VietGAHP trong chăn nuôi lợn thịt nhưng còn gặp nhiều khó khăn và chưa có đánh giá cụ thể. Nghiên cứu tập trung đánh giá quy trình chăn nuôi của các hộ VietGAHP và không VietGAHP trên cơ sở nhóm tiêu chí VietGAHP. Dựa trên thống kê so sánh và kiểm định thống kê cho thấy các hộ áp dụng quy trình VietGAHP thực hiện được nhiều tiêu chí VietGAHP hơn và cũng thu được kết quả và hiệu quả chăn nuôi cao hơn so với nhóm chăn nuôi thông thường. Kết quả mô hình Logit cũng cho thấy các yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới quyết định áp dụng quy trình VietGAHP của hộ là tầm quan trọng của chăn nuôi lợn trong nông hộ, trình độ học vấn của chủ hộ và việc hộ đang áp dụng mô hình VAC.
Bài viết tập trung phân tích ảnh hưởng của phát triển công nghiệp và dịch vụ đối với sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam trong giai đoạn 2010-2012. Kết quả hồi quy số liệu mảng với mô hình tác động cố định cho thấy chênh lệch GDP bình quân lao động giữa khu vực công nghiệp-dịch vụ và khu vực nông nghiệp có tác động tích cực đến lợi nhuận từ hoạt động trồng trọt của các hộ gia đình nông thôn. Điều này tuân theo mô hình Lewis về sự dịch chuyến lao động giữa hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp. Nghiên cứu cũng cho thấv vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế và tầm quan trọng của các chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp-nông thôn hiện nay.
Khung năng lực được định nghĩa là công cụ giúp xác định các kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết để có thể làm việc một cách hiệu quả trong tổ chức, đặc biệt là ở khu vực tư. Hiện nay, để phát triển năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lí khu vực công, nhiều quốc gia đã tập trung xây dựng khung năng lực chung và khung năng lực cho từng chức danh. Đến nay, mô hình năng lực hay còn gọi là khung năng lực đã được sử dụng rộng rãi trong khu vực công ở nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng nên tham khảo để ứng dụng mô hình này.
Bảo tồn và phát huy các giá trị di săn văn hóa gắn với phát triển du lịch ở TP Hồ Chí Minh không chỉ mang lại giá trị văn hóa tinh thần, mà còn góp phần phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, người dân còn được hưởng lợi nhiều hơn từ việc tham gia vào các dịch vụ du lịch, ngành, nghề thủ công truyền thống. Vì vậy, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch là vấn đề cần được các cấp, các ngành của TP Hồ Chí Minh quan tâm lãnh đạo và triển khai thực hiện.
Bài viết phân tích và đánh giá một số quy định trong lĩnh vực tư pháp hình sự Cộng hòa Liên bang Đức về biện pháp hòa giải, cụ thể bao gồm: Khái niệm, đối tượng áp dụng, điều kiện áp dụng, thẩm quyền và thủ tục áp dụng. Trên cơ sở đó, tác giả so sánh quy định về hòa giải trong pháp luật Đức với biện pháp hòa giải tại cộng đồng của Việt Nam, đồng thời đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện những quy định về biện pháp hòa giải tại cộng đồng.
Nâng cao năng lực tư duy chính trị cho cán bộ, đảng viên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta. Sự cần thiết phải xây dựng và phát triển môn Chính trị học ở Việt Nam, đồng thời chỉ ra những nội dung cần nghiên cứu của Chính trị học.
Bài viết phân tích, làm sáng tỏ các quy định liên quan đến điều ước quốc tế trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 của Cộng hòa Xã họi chủ nghĩa Việt Nam.
Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, là người sáng lập ra nền giáo dục mới Việt Nam, người thầy tiêu biểu của thời đại với phương pháp giảng dạy hiệu quả, thiết thực. Phương pháp giảng dạy lí luận mà Hồ Chí Minh thường xuyên thực hiện là gắn lí luận với thực tiễn. Hiện nay, phương pháp này rất cần thiết đối với mỗi cán bội, giảng viên giảng dạy các môn lí luận chính trị.