Bài viết đưa ra lý thuyết về sử dụng chỉ tiêu tỉ số thu chi để đánh giá hiệu quả hệ thống giao thông thông minh và thảo luận phương pháp sử dụng chỉ tiêu tỉ số thu chi để đánh giá hiệu quả hệ thống giao thông thông minh.
Trong những năm qua cụm từ "cải tạo chung cư cũ" luôn là chủ đề nóng từ chính quyền, người dân và các phương tiện truyền gây tâm lý hoang mang cho cộng đồng dân cư trong vùng dự án. Đồng thời các khu chung cư, tập thể cũ ngày một xuống cấp nghiêm trọng gây mất mỹ quan đô thị, mất an toàn cho người dân, ảnh hưởng tới môi trường sống, môi trường xã hội, ảnh hưởng tới quy hoạch, vị thế và truyền thống văn hóa của Thủ đô và cả nước. Trước tình hình đó việc cải tạo chung cư là cực kỳ cấp bách cần sự vào cuộc đồng bộ từ Trung ước đến địa phương trong việc xây dựng thể chế, chính sách thu hút đầu tư để huy động các nguồn lực xã hội tham gia cải tạo chung cư cũ. Trong đó cần đặc biệt quan tâm đến vai trò của cộng đồng dân cư và chính quyền cơ sở. Tuy nhiên, sau gần 20 năm triển khai thực hiện cải tạo các chung cư cũ trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung nhưng kết quả đạt được rất hạn chế, gây lãng phí lớn nguồn lực xã hội, gây bức xúc trong người dân và dư luận. Nhiều nhà đùa tư, doanh nghiệp xin tham gia thực hiện cải tạo chung cư cũ nhưng thiếu năng lực tài chính, quy hoạch, quản lý xây dựng nên không thực hiện đúng cam kết gây mất lòng tin trong cộng đồng dân cư và xã hội.
Quản lý hạ tầng kỹ thuật nông thôn là một vấn đề phức tạp và mang tính chuyên môn, gắn theo từng lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật như giao thông, cung cấp nước sạch, thoát nước, cấp điện, rác thải rắn, nghĩa trang...Theo các vùng miền khác nhau mô hình quản lý cũng sẽ có những thay đổi ít nhiều do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, lối sống và chính sách địa phương. Trong bài viết này, tác giả sẽ nêu ra một số ý kiến để xây dựng mô hình hợp lý quản lý hạ tầng kỹ thuật nông thôn Việt Nam. Kết quả của bài viết sẽ được áp dụng linh hoạt cho từng lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật và cho từng vùng miền để có mô hình quản lý hạ tầng kỹ thuật đạt hiệu quả.
Hiện nay tại Việt Nam, mỗi dự án hạ tầng giao thông đường bộ đầu tư theo hình thức BOT có một văn bản hướng dẫn thu phí riêng. Tuy nhiên, mức thu phí của mỗi dự án lại không đồng nhất và có độ dãn cách lớn. Thực tế đã chứng minh, mức thu phí gần như quyết định đến sự thành công của dự án. Nghiên cứu này xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến mức thu phí của các dự án hạ tầng giao thông đường bộ đầu tư theo hình thức BOT tại Việt Nam nhằm giúp cho người làm công tác quản lý chủ động hơn trong việc điều hành dự án. Nghiên cứu đã chỉ ra 10 nhân tố ảnh hưởng chính và mức độ ảnh hưởng của nó đến mức thu phí dịch vụ của các dự án hạ tầng giao thông đường bộ đầu tư theo hình thức BOT tại Việt Nam.
Đặc thù hoạt động đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước được giao cho các chủ đầu tư thay mặt quản lý, quá trình thực hiện liên quan đến nhiều lĩnh vực phức tạp như quy hoạch, đất đai, tiêu chuẩn kỹ thuật ngành, hiệu quả kinh tế xã hội... là nguồn lực dễ thất thoát, lãng phí. Do đó, những dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước cần được quản lý chặt chẽ, toàn diện, theo đúng trình tự để đảm bảo mục tiêu đầu tư, chất lượng, tiến độ thực hiện, tiết kiệm chi phí và đạt được hiệu quả dự án.
Đánh giá vòng đời công trình (Life cycle assessment - LCA) là công việc nhằm cung cấp các thông tin cho người ta quyết định xác định được lượng năng lượng cần cung cấp cho công trình, từ đó nhận biết các cơ hội để cải thiện hiệu năng môi trường của công trình tại mọi giai đoạn trong vòng đời của nó, giúp lựa chọn được sản phẩm thân thiện với môi trường, giúp công trình tiếp cận xu hướng xây dựng bền vững. Đánh giá vòng đời có thể được sử dụng trong suốt các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng, từ thiết kế thi công đến vận hành công trình. Phương pháp phân tích năng lượng vòng đời (Life cycle energy analysis - LCEA) là một phương pháp khá dễ sử dụng, nên được dùng khá phổ biến cho hoạt động này. Bài báo này chỉ ra rằng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc áp dụng LCEA nhằm đánh giá vòng đời công trình xây dựng nói chung và nhà ở nói riêng có những thuận lợi nhất định khi xác định năng lượng hàm chứa ban đầu của tòa nhà, tuy nhiên, để xác định năng lượng hàm chứa ban đầu của tòa nhà, tuy nhiên, để xác định được năng lượng vận hành và năng lượng phá dỡ tòa nhà sẽ tương đối khó khăn. Một số giải pháp để giải quyết các khó khăn đã được chỉ ra, trong đó có giải pháp về áp dụng mô hình thông tin công trình.
Trên thế giới và ở Việt Nam, xu hướng sử dụng vật liệu xanh trong xây dựng công trình giao thông nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Bê tông Geopolyme tro bay là loại vật liệu không sử dụng xi măng đồng thời tái sử dụng lại tro bay thải ra từ nhà máy nhiệt điện. Việc nghiên cứu ứng dụng cát biển trong các công trình xây dựng là vấn đề khoa học lớn, có ý nghĩa về kinh tế kỹ thuật và bảo vệ biển đảo tổ quốc. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm để đánh giá bước đầu sử dụng cát biển chế tạo bê tông Geopolyme tro bay đáp ứng yêu cầu làm mặt đường ô tô cho khu vực ven biển, hải đảo.
Đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics của PTSC Quảng Ngãi, qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hoạt động nhằm đáp ứng định hướng phát triển của doanh nghiệp và phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay và tầm nhìn tới năm 2030.
Phân tích vai trò của xuất khẩu, GDP, FDI trong bối cảnh hội nhập và liên kết sâu rộng của cộng đồng các nước ASEAN trong giai đoạn 1985-2017. Kết quả nghiên cứu chỉ ra xuất khẩu và GDP có tác động dài hạn tới cả FDI vào và FDI ra đối với nhóm nước ASEAN.
Phân tích thực trạng hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp may mặc Việt Nam và trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp hiện nay.