Đối với doanh nghiệp ngành Thép, việc lựa chọn chính sách kế toán phù hợp để đo lường, ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính còn nhiều trăn trở và phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố liên quan. Chính vì vậy, bài viết nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố tác động, mức độ tác động của các nhân tố đến việc lựa chọn chính sách kế toán đối với doanh nghiệp ngành Thép. Kết quả chỉ ra có 6 nhân tố, gồm: (1) Môi trường kinh doanh, (2) Chính sách thuế, (3) Chi phí môi trường, (4) Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, (5) Trình độ và năng lực nhân viên, (6) Hiệu quả kinh doanh có tác động đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp ngành Thép.
Bài viết nghiên cứu và xác định các yếu tố tác động đến mức chi trả cổ tức bằng tiền của các doanh nghiệp niêm yết (lấy dữ iiệu 210 doanh nghiệp) trên sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), trong giai đoạn 2013-2016 thông qua phương pháp định lượng và phương pháp hồi quy. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố: (1) Qui mô của doanh nghiệp, (2) Chỉ số giá thị trường trên giá trị sổ sách của cổ phiếu (PB), (3) Khả năng sinh lợi và (4) Chi phí thuê thu nhập doanh nghiệp có tác động tích cực đến mức chi trả cổ tức bằng tiền. Ngược lại, các yếu tố bao gồm: (1) Thu nhập trên mỗi cổ phiếu, (2) Khả năng thanh toán ngắn hạn (LQ), (3) Đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều với mức chi trả cổ tức. Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện yếu tố rủi ro biến động giá cổ phiếu và mức chi trả cổ tức bằng tiền không có mối tương quan.
Nhiều doanh nghiệp đã xem nhẹ việc quản trị dòng tiền và đã dẫn đến thất bại hoặc phá sản. Theo khảo sát, có đến 60% tổn thất có liên quan đến quản trị dòng tiền trong doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này, các tác giả sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp của 33 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết ở Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2017 để kiểm tra tác động của quản trị dòng tiền đối với hiệu quả hoạt động. Mô hình hồi quy tuyến tính được sử dụng và phân tích để kiểm tra sự tương quan giữa các biến. Kết quả cho thấy có mối quan hệ đáng kể giữa dòng tiền và lợi nhuận trên tài sản. Hơn nữa, kết quả cũng cho thấy một mối tương quan tích cực giữa dòng tiền và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.
Trước bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và không thể nằm ngoài xu thế chịu sự tác động từ những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc nghiên cứu, tìm hiểu về cách mạng công nghiệp 4.0 là điều tất yếu. Trong đó, tác giả tập trung đánh giá một cách toàn diện để nhận diện những tác động, cơ hội, thách thức là điều kiện cần thiết để các ngân hàng Việt Nam triển khai và thích ứng với cách mạng công nghiệp 4.0 đôi với hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Lượng tiền mặt cá nhân nắm giữ, đó là chỉ bộ phận mà cá nhân nắm giữ trong tay mình dưới hình thức tiền mặt trong thu nhập có thể chi phối được. Ranh giới giữa tiền mặt cá nhân nắm giữ và tiền gửi tiết kiệm cũng không thật nghiêm ngặt. Chúng ta có thể lấy thu nhập lợi tức có hay không (bao gồm thu nhập lợi tức cổ đông) làm căn cứ phân ranh giới giữa tiền mặt cá nhân giữ và tiền gửi tiết kiệm. Phần tiền gửi không kỳ hạn, có kì hạn, trái phiếu, các loại cổ phiếu... có lãi suất đều thuộc vào tiền gửi tiết kiệm cá nhân. Tiền mặt trong tay cá nhân, tất cả tiền gửi tiết kiệm không có lãi suất (như loại tiền gửi dạng góp phường hội giúp nhau), tất cả các khoản không có thu nhập lãi suất đều thuộc vào loại tiền mặt cá nhân giữ. Nhà nước cần phải quản lý lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường tiền tệ, trong đó có lượng tiền mặt cá nhân nắm giữ. Thông qua bài viết, tác giả cũng mong muốn đưa ra các yếu tố cùng với lượng tiền mặt cá nhân nắm giữ này để góp phần xác định vấn đề khi Nhà nước muốn huy động vốn trong dân cần phải nắm bắt được nhằm đạt mục tiêu.
Bài viết nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Pool OLS, FEM, REM, GMM với dữ liệu từ 130 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2013 - 2016. Thông qua kết quả hồi quy, nghiên cứu tìm thấy sự tác động có ý nghĩa của các yếu tố số ngày của các khoản phải thu, số ngày tồn kho, số ngày của các khoản phải trả, chu kì chuyển đổi tiền mặt, qui mô của doanh nghiệp, tỷ lệ nợ đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Sự hiểu biết về tài chính cung cấp sự hiểu biết về các khái niệm và những kỹ năng tài chính để thực hiện các quyết định tài chính hiệu quả và cải thiện tốt tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghiên cứu này kiểm tra ảnh hưởng của sự hiểu biết tài chính đến quản trị rủi ro tài chính trong việc cải thiện hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Bình Dương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiểu biết về tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến quản trị rủi ro tài chính trong việc cải thiện hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Bình Dương.
Quỹ trợ vốn CEP là một tổ chức tài chính vi mô phi lợi nhuận hoạt động lại các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. CEP hoạt động với mục tiêu cải thiện đáng kể điều kiện sống của người nghèo và người nghèo nhất ở Việt Nam thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô hiệu quả, bền vững. Vì vậy, bàì viết phân tích về thực trạng hoạt động của CEP, để qua đó thấy được hiệu quả Quỹ CEP mang lại, đồng thời đưa ra các giải pháp để Quỹ CEP hoạt động hiệu quả hơn và mở rộng mạng lưới hoạt động.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm cá tra của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp, giúp doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cải thiện năng lực cạnh tranh sản phẩm của mình trên thị trường quốc tế.
Hệ biểu trưng trực quan là bộ phận cấu thành đóng vai trò nền tảng nhận biết văn hóa doanh nghiệp của một công ty khởi sự kinh doanh. Bằng phương pháp xác minh biểu trưng văn hóa doanh nghiệp (kiến trúc, nghi lễ, biểu tượng, khẩu hiệu và ấn phẩm điển hình), tác giả bài viết phân tích thực trạng sở hữu hệ Hệ biểu trưng trực quan và đề xuất 03 giải pháp: (1) cần nhanh chóng hoàn thiện Hệ biểu trưng trực quan theo hướng thích ứng với thời đại số mới, (2) xây dựng quyển sổ tay văn hóa doanh nghiệp, (3) thiết lập và áp dụng Bộ quy tắc ứng xử nhằm hoàn thiện Hệ biểu trưng trực quan của các công ty khởi sự kinh doanh tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.