Phân tích lượng tiền mặt cá nhân nắm giữ và yếu tố liên quan từ đó đưa ra giải pháp huy động vốn trong dân
Tác giả: Lê Văn TýTóm tắt:
Lượng tiền mặt cá nhân nắm giữ, đó là chỉ bộ phận mà cá nhân nắm giữ trong tay mình dưới hình thức tiền mặt trong thu nhập có thể chi phối được. Ranh giới giữa tiền mặt cá nhân nắm giữ và tiền gửi tiết kiệm cũng không thật nghiêm ngặt. Chúng ta có thể lấy thu nhập lợi tức có hay không (bao gồm thu nhập lợi tức cổ đông) làm căn cứ phân ranh giới giữa tiền mặt cá nhân giữ và tiền gửi tiết kiệm. Phần tiền gửi không kỳ hạn, có kì hạn, trái phiếu, các loại cổ phiếu... có lãi suất đều thuộc vào tiền gửi tiết kiệm cá nhân. Tiền mặt trong tay cá nhân, tất cả tiền gửi tiết kiệm không có lãi suất (như loại tiền gửi dạng góp phường hội giúp nhau), tất cả các khoản không có thu nhập lãi suất đều thuộc vào loại tiền mặt cá nhân giữ. Nhà nước cần phải quản lý lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường tiền tệ, trong đó có lượng tiền mặt cá nhân nắm giữ. Thông qua bài viết, tác giả cũng mong muốn đưa ra các yếu tố cùng với lượng tiền mặt cá nhân nắm giữ này để góp phần xác định vấn đề khi Nhà nước muốn huy động vốn trong dân cần phải nắm bắt được nhằm đạt mục tiêu.
- Về cách tiếp nhận quan hệ ngữ nghĩa ở bậc từ
- Bàn về các phương pháp nhận diện ẩn dụ ý niệm
- Đối chiếu ẩn dụ ý niệm chỉ nỗi buồn trong tiếng Anh và tiếng Việt
- Hoạt động “dạy học phản ánh” của giảng viên trong lớp học tiếng Anh : khảo sát trường hợp
- Từ “盡”, “尽” trong tiếng Hán và từ Hán Việt “tận” trong tiếng Việt





