Trên thế giới, hoạt động M&A xuất hiện từ rất sớm và có tính lịch sử lâu bền. Các đợt sóng M&A, không chỉ bó hẹp trong phạm vi các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Châu Âu, Nhật Bản... mà còn lan tỏa sang các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển như Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ... bong đó có cả Việt Nam. Có thể nhận thấy, M&A là con đường ngắn nhất để thu hút vốn nước ngoài vào Việt Nam, qua đó giúp các doanh nghiệp trng nước có khả năng tiếp cận công nghệ mới, kỹ năng cũng như cách quản lý doanh nghiệp hiệu quả từ đối tác nước ngoài để đáp ứng được yêu cầu tái cấu trúc lại doanh nghiệp theo hướng giảm về số lượng và tăng về chất lượng, hình thành nên những doanh nghiệp có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh bên thị trường. Bài viết đi sâu nghiên cứu thực bạng hoạt động M&A của các doanh nghiệp ở Việt Nam, để thấy được những kết quả đã đạt được, cũng như những cơ hội và thách thức phát triển thị trường M&A trong thời kỳ hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thị trường chứng khoán phái sinh trên thế giới đã có lịch sử phát triển khá lâu đời, trong đó vai trò quan trọng của việc xây dựng một hệ thống khung pháp lý chặt chẽ đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của Thị trường chứng khoán phái sinh. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm phân tích kinh nghiệm xây dựng khung pháp lý của một số nước trên thế giới nhằm rút ra các kinh nghiệm và định hướng hoàn thiện khung pháp lý cho Thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam, tập trung vào các điểm: (1) Công cụ tài chính phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh; (2) Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng khung pháp lý cho Thị trường chứng khoán phái sinh và (3) Một số định hướng trong việc xây dựng khung pháp lý cho Thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam.
Bài viết này xem xét mối quan hệ giữa dòng tiền - đầu tư, tác động kiểm soát của nhà nước tới các kênh tài trợ từ bên ngoài của các công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hose. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa dòng tiền và đầu tư có dạng hình chữ U. Độ nhạy cảm đầu tư với dòng tiền của các công ty nhà nước kiểm soát lớn hơn so với các công ty tư nhân kiểm soát đặc biệt khi dòng tiền âm. Sự khác biệt trong độ nhạy cảm chỉ xuất hiện khi cơ hội đầu tư ít đi. Kết quả hồi quy cũng cho thấy tác động của kiểm soát nhà nước không giúp các công ty thu được nhiều nguồn vốn bên ngoài hơn.
Ngày 04/10/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở tổ chức lại hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo nhằm thống nhất các nguồn lực tài chính, thiết lập một cơ chế tài trợ phù hợp, góp phần thực hiện mục tiêu hỗ trợ của Nhà nước đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Trong bài viết này, các nhân tố ảnh hưởng đến các chính sách tín dụng đối với hộ nghèo sẽ được nghiên cứu rõ hơn, nhằm mục đích khẳng định các nhân tố này sẽ góp phần quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của nước ta.
hính sách tiền tệ truyền thống được các ngân hàng trung ương áp dụng trong nhiều năm qua và đều phát huy các tác động tích cực trong việc kiểm soát nhằm ổn định thị trường tài chính. Tuy nhiên, khi thị trường tài chính lấn sâu vào khủng hoảng, thì tác động của các chính sách tiền tệ tỏ ra có nhiều điểm hạn chế. Trước thực tế này, ngân hàng trung ương cần phải đưa ra các công cụ khác để tác động lên thị trường tài chính và các công cụ chính sách này được gọi là các công cụ chính sách tiền tệ phi truyền thống. Bài viết này tập trung đề cập kinh nghiệm của Mỹ trong việc sử dụng chính sách tiền tệ phi truyền thống, qua đó đưa ra một số khuyến nghị chính sách với Việt Nam.
Trong những năm gần đây, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang tích cực nâng cao tính cạnh tranh và khai thác tối đa các cơ hội từ thị trường mang lại, đặc biệt là ở mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Thách thức lớn nhất ở lĩnh vực này là việc áp lực cạnh tranh gia tăng ngay trên thị trường nội địa khi Việt Nam mở cửa hội nhập và nhu cầu hay thay đổi của khách hàng. Bằng cách ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã cho ra đời một phương thức cung ứng sản phẩm dịch vụ mới, đó là việc cung ứng sản phẩm và dịch vụ thông qua kênh phân phối bằng mạng lưới viễn thông và internet, được gọi là “ngân hàng điện tử”. Bài viết phân tích thực trạng dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại Việt Nam và triển vọng, giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử.
Hiện nay, dịch vụ E-Banking là một giải pháp hữu hiệu, một trợ thủ đắc lực trong việc kiểm soát tài chính của khách hàng mà không mất nhiều thời gian và công sức, lại an toàn, hiệu quả. Bài viết này đề cập tới thực tế dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam hiện nay và đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử trong thời gian tới.
Kinh tế thế giới hiện đang trong bối cảnh tăng trưởng chậm lại, nợ công đang trở thành vấn đề nóng bỏng đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Các khoản thu ngân sách hàng năm của Chính phủ luôn chiếm tỷ lệ thấp hơn trong GDP so với chi tiêu. Mặc dù chỉ số nợ công trên vẫn được xem là trong ngưỡng an toàn, nhưng nếu không có một chương trình và kế hoạch quản lý nợ công hiệu quả, đặc biệt là nợ nước ngoài thì nguy cơ mất kiểm soát nợ công Việt Nam trong tương lai là điều có thể xảy ra. Bài viết này sẽ phân tích về nợ công ở Việt Nam hiện nay, trong đó đề cập đến những dự báo rủi ro và các biện pháp phòng ngừa.
Kiểm soát nợ xấu là nhiệm vụ trọng tâm của các ngân hàng thương mại, của cơ quan quản lý Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Số liệu thống kê cho thấy, chỉ tiêu nợ xấu đang dần được kiểm soát ở hầu hết các, tuy nhiên để có kết quả tốt hơn trong công tác này cần có hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt và sự chung tay của nhiều chủ thể trong nền kinh tế. Bài viết này bàn về vấn đề kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại của Việt Nam hiện nay.
Kế hoạch chia cổ tức luôn là một trong những thông tin được các nhà đầu tư quan tâm. Quyết định này không chỉ liên quan đến lợi ích của các nhà đầu tư, mà còn thể hiện tiềm lực tài chính, khả năng quản trị và cơ hội phát triển của công ty trong tương lai. Dựa trên kết quả phân tích số liệu về thực trạng chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2017, nghiên cứu này chỉ ra những đặc điểm cơ bản về chính sách cổ tức và trường phái lý thuyết về chính sách cổ tức các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang theo đuổi.