Từ các chủng vi khuẩn lactic trong bộ sưu tập vi sinh vật của Viện Công nghệ thực phẩm, đã tuyển chọn được chủng vi khuẩn lactic ký hiệu HF08 có khả năng lên men chuyển hóa tạo manitol cao từ fructoza trên môi trường SP với hàm lượng manitol đạt 71,17 +-0,27 g/l. Đã xác định được một số đặc điểm hình thái, tính chất sinh hóa của chủng vi khuẩn lactic đã lựa chọn là chủng vi khuẩn lactic dị hình. Gram dương, ưa ấm và sử dụng được các nguồn đường khác nhau, nhưng không sử dụng được manitol làm cơ chất cacbon trong quá trình phát triển. Đã định tên chủng HF08 bằng phương pháp giải trình tự gien 16S ADNr cho kết quả là chủng mang tên Lactobacillus fermentum HF08. Trong lên men chuyển hóa tạo manitol bởi chủng vi khuẩn lactic trên môi trường lên men thích hợp thì ở một tỷ lệ bổ sung giống nhất định, mật độ sinh khối ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả cua quá trình lên men. Đã xác định được một số điều kiện thích hợp cho quá trình nhân giống Lactobacillus fermentum HF08: môi trường nhân giống là OSCP lỏng với tỷ lệ đường phối hợp glucoza/fructoza tương ứng là 10/20 g/l, nhiệt độ nuôi 30 - 35độ C, thời gian nuôi 24 giờ và pH 6,0 - 6,5. Kết quả mật độ tế bào trong dịch nhân giống đạt cao nhất, 6,1 - 6,2 x 10 mũ 9 CFU/ml
Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã, đang và sẽ tiếp tục tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường ngày càng rõ rệt và có chiều hướng gia tăng về quy mô, tần suất, diễn biến phức tạp, khó dự báo, khó kiểm soát. Vì vậy, các giải pháp ứng phó mang tính cấp bách cho cả nhân loại cần phải được tổ chức triển khai, thực hiện đồng bộ, do phạm vi tác động, mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu không chỉ trong một phạm vi quốc gia, lãnh thổ mà mang tính toàn cầu và Việt Nam không phải là quốc gia ngoại lệ.
Ở Việt Nam, thổ cẩm rất phong phú cả về loại hình, chất liệu và nghệ thuật. Thổ cẩm là nguồn lực, chất liệu xây dựng sản phẩm du lịch, có sức hút đặc biệt đối với du khách.
Nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết quả thể nấm dược liệu Cordyceps cicadae lên chuột nhắt trắng Swiss. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhóm chuột thí nghiệm tỷ lệ sống là 100%. Tăng trưởng về khối lượng ở nhóm 1 và nhóm 2 uống dịch chiết nấm lâu hơn so với nhóm đối chứng, tỷ lệ thời gian bơi so với nhóm đối chứng là la 161,15% và 172,12%. Đặc điểm giải phẫu không ghi nhận bất thường.
Du lịch thông minh được xây dựng trên nền tảng của công nghệ thông tin – truyền thông và là một phần của đô thị thông minh, cùng với nỗ lực của chính quyền, các cơ quan, ban ngành, các doanh nghiệp, Đà Nẵng đang hướng đến xây dựng ngành du lịch chất lượng cao và cũng là địa phương đi đầu trong phát triển mô hình du lịch thông minh.
Trong phát triển du lịch, vấn đề điểm đến và quản lý điểm đến du lịch luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu. Thanh Hóa là tỉnh có tài nguyên du lịch nổi trội, có điều kiện để xây dựng các sản phẩm du lịch hấp dẫn, hình thành các điểm đến du lịch để thu hút khách. Làm rõ vấn đề điểm đến, công tác quản lý điểm đến ở Thanh Hóa không chỉ sẽ góp phần quan trọng trong xác định nội dung và nhiệm vụ công tác quản lý nhà nước về xây dựng và quản lý điểm đến ở Thanh Hóa mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong phạm vi cả nước.
Khôi tía là loài cây dược liệu có giá trị dược lý cao hiện đang bị khai thác quá mức dẫn đến nguồn gen bị cạn kiệt. Hoàn thiện quy trình nhân giống cây Khôi tía bằng phương pháp nuôi cấy in-vitro đã được nghiên cứu thành công. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sát khuẩn bề mặt chồi non bằng ethanol 70% trong 1 phút, khử trùng bằng dung dịch HgCl2 0,1% trong 8 phút và nuôi cấy trên môi trường dinh dưỡng có bản MS bổ sung 0,2 mg/l BAP, cho tỷ lệ mẫu sạch là 80,92%, cảm ứng tạo đa chồi trên môi trường MS bổ sung 1mg/1 BAP, 0,3 mg/1 Kinetin, 0,1 mg/l NAA, 30g/l sucrose và 7g/l agar cho tỷ lệ mẫu tạo cụm chồi 99,31% với chiều cao chồi trung bình 3,7 cm và hệ số nhân đạt 9,13 lần/chu kỳ nhân giống sau 4 tuần nuôi cấy.
Nghiên cứu thực hiện tách chiết chất hòa tan từ khổ qua (Momordica charantia) và cỏ ngọt (Stevia rebaudiana) tạo viên sủi chứa các thành phần hoạt chất, sử dụng trong hỗ trợ điều trị bệnh béo phì và tiểu đường. Thông qua đó xác định được các thông số kỹ thuật cơ bản để phục vụ cho việc hoàn thiện quy trình sản xuất viên sủi từ khổ qua và cỏ ngọt tới ứng dụng trong hỗ trợ điều trị người mắc bệnh tiểu đường, béo phì.
Bài báo tổng quan sẽ đưa ra những nghiên cứu về công thức và cấu trúc hóa của các hoạt chất có trong cây Vernonia amigdalina Delile (cây lá đắng) đã được một số nhà khoa học trên thế giới phân lập được. Đồng thời nghiên cứu các hoạt tính sinh học của các hoạt chất sạch. Các hoạt tính đó bao gồm: tác dụng chữa bệnh đái tháo đường, kháng khuẩn, sốt rét, kháng nấm, chống oxy hóa, bảo vệ gan... Tổng quan cũng nêu lên được khả năng trồng phát triển cây dược liệu này. Cao chiết methanol lá đắng do Viện Nghiên cứu Khoa học Miền Trung chiết xuất có tác dụng giảm tiểu đường, giảm cholesteron và thể hiện hoạt tính gây độc tế bào ung thư gan người Hep3B và tế bào ung thư vú người MCF-7.
Bệnh Alzheimer là một bệnh về thần kinh có liên quan đến tuổi tác, bệnh được đặc trưng bởi sự stress oxy hóa cao và nồng độ acetylcholine (AChE) trong não. Vernonia amygđalyna có một số tác dụng dược lý có lợi như các hoạt động chống oxy hóa, chống viêm và tăng cường trí nhớ. Từ cao chiết methanol của lá Vernonia amygdalina các phân đoạn khác nhau trong cao được đánh giá hoạt tính chống oxy hóa và kháng AChE. Lá của Vernonia amygdalina được chiết xuất bằng methanol và tách phân đoạn với các dung môi n-hexan, ethyl acetat, chloroform và butanol. Những phân đoạn này được nghiên cứu hoạt tính chống oxy hóa bằng thử nghiệm DPPH và hoạt tính ức chế acetylcholinesterase bằng phương pháp đo màu của Ellman. Kết quả phân đoạn dịch chiết butanol có hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất với IC50 = 41,43 ± 0,36 pg/mL. Hoạt tính ức chế AChE mạnh nhất là của dịch chiết ethyl acetat với giá trị IC50 = 59,58 ± 0,99 pg/mL theo cách phụ thuộc nồng độ. Phân tích ức chế động học cho thấy phần ethyl acetat của loại ức chế hỗn hợp với Ki (đại diện cho ái lực của enzym và chất ức chế) là 0,53 ± 0,03 mg/mL. Kết quả là tiền đề cho những nghiên cứu sâu hơn về hoạt tính sinh học của Vernonia amygdalina nhằm tìm kiếm các nguyên liệu mới được sử dụng trong phòng bệnh, điều trị các rối loạn thần kinh như Alzheimer.