CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Thử hoạt tính sinh học và xác định hàm lượng jatrorrhizine bằng phương pháp LC/MS có trong thân cây mật gấu (Mahonia nepaulensis DC) ở Đại Từ Thái Nguyên / Lê Thị Giang, Nguyễn Thị Mỹ Ninh // .- 2020 .- Số 6 .- Tr. 271-276 .- 610
Cây mật gấu (Mahonia nepaulensis DC.) là một trong nhiều cây thuốc quý ở Việt Nam. Trong nội dung nghiên cứu này, nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát các lớp chất, thử hoạt tính sinh học và xác định hàm lượng jatrorrhizine có trong thân cây mật gấu. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm phương pháp ngâm chiết để thu dịch chiết, phương pháp hóa học để khảo sát các lớp chất từ dịch chiết cây mật gấu, phương pháp thử hoạt tính sinh học, phương pháp xây dựng đường chuẩn để xác định hàm lượng phần trăm jatrorrhizine. Kết quả cho thấy trong cặn chiết ethanol của thân cây mật gấu có alkaloids, steroids, coumarin, cardiac glycosides. Cặn chiết ethanol có khả năng kháng yếu đối với chủng nấm mốc Fusarium oxysporum (200 μg/mL), cặn nbutanol có khả năng kháng yếu đối với chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus (149,3 μg/mL). Hàm lượng jatrorrhizine có trong cây mật gấu là 0,682203%. Việc xác định hàm lượng jatrorrhirine có trong thân cây mật gấu có ý nghĩa quan trọng trong việc mở ra hướng nghiên cứu thuốc chữa bệnh tiểu đường, bệnh vẩy nến và bệnh Alzheimer.
2 Nghiên cứu đặc điểm vi học và định tính sơ bộ thành phần hóa học của cây lá đắng thu hái tại Thái Nguyên / Đoàn Thanh Hiếu, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Mai Hồng // .- 2020 .- Số 1 .- Tr. 150-154 .- 610
Lá đắng là loài cây di thực vào Việt Nam và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong phòng và điều trị nhiều bệnh dưới dạng rau ăn hoặc nước uống. Trong nghiên cứu này, chúng tôi mô tả đặc điểm hình thái, đặc điểm vi phẫu, đặc điểm bột dược liệu của cây lá đắng thu hái tại Thái Nguyên, đồng thời định tính sơ bộ thành phần hóa học của loài cây này. Các kết quả thu được xác định mẫu cây lá đắng thu hái tại Thái Nguyên là loài Vernonia amygdalina Del., họ Cúc (Asteraceae), cho thấy trong lá, thân cây có các nhóm chất chính là flavonoid, saponin, tanin và đường khử.
3 Tỷ lệ các loại bệnh tim mạch đồng mắc ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại phòng khám ngoại trú bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh / Trần Thị Yến, Nguyễn Minh Hiệp, Trịnh Xuân Tráng // .- 2020 .- Số 1 .- Tr. 161-166 .- 610
Xác định tỷ lệ các loại bệnh tim mạch ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại phòng khám ngoại trú bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2018. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được chẩn đoán theo GOLD 2017, suy tim được chẩn đoán theo Framingham và tăng huyết áp được chẩn đoán theo JNC VII. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0. Các bệnh tim mạch chính được ghi nhận trong nghiên cứu này là bệnh van tim người lớn tuổi (65,2%), tăng huyết áp (62,3%), rối loạn nhịp tim (63,0%), tăng áp động mạch phổi (33,3%), suy tim (18,8%), bệnh mạch vành chiếm 7,2%. Các tác giả đưa ra kết luận bệnh lý tim mạch thường gặp ở bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tầm soát các bệnh lý tim mạch cùng tồn tại với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là rất cần thiết, giúp việc điều trị được tốt hơn.
4 Đánh giá hoạt động thể lực của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp điều trị tại Khoa Nội cơ xương khớp bệnh viện Trung ương Thái Nguyên / Đào Trọng Quân, Vũ Thị Ngọc Thủy, Thân Thị Mơ // .- 2020 .- Số 1 .- Tr. 41-46 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực hiện nhằm đánh giá hoạt động thể lực của những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đang điều trị tại Khoa Nội cơ xương khớp, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Kết quả cho thấy, đa phần người bệnh viêm khớp dạng thấp đi bộ với khoảng cách ngắn và tiêu tốn ít năng lượng cho việc đi bộ. Khoảng cách đi bộ trung bình của người bệnh viêm khớp dạng thấp một ngày khoảng 383,3 mét tương đương tiêu tốn khoảng 23 Kcalo cho việc đi bộ. Một ngày người bệnh viêm khớp dạng thấp cũng chỉ phải tiêu tốn trung bình khoảng 10 Kcalo cho việc leo cầu thang hoặc bậc thềm. Số giờ trung bình sử dụng cho hoạt động gắng sức mức độ nặng và trung bình của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp ở mức độ thấp trong đó hoạt động gắng sức mức độ nặng chỉ chiếm khoảng 1,2 giờ; hoạt động gắng sức ở mức độ trung bình chiếm 3,7; Hoạt động gắng sức nhẹ chiếm 5,5 giờ, hoạt động tại chỗ chiếm 6,2 giờ và hoạt động ngủ nghỉ chiếm 7,2 giờ. Số giờ trung bình sử dụng cho hoạt động thể lực gắng sức nặng và trung bình giảm dần theo độ tuổi. Trong khi số giờ trung bình sử dụng cho hoạt động gắng sức mức độ nhẹ và hoạt động tại chỗ tăng theo độ tuổi. Từ đó có thể đưa ra kết luận, hoạt động thể lực của người bệnh viêm khớp dạng thấp giảm sút so với bình thường.
5 Đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng của lao phổi của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Lao và bệnh Phổi Thái Nguyên / Cao Quý Tư, Nguyễn Thị Lệ, Dương Phương Hiếu // .- 2020 .- Số 1 .- Tr. 127-133 .- 610
Đánh giá hoạt động kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên. Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm đánh giá hoạt động kê đơn theo các chỉ số kê đơn của Tổ chức Y tế thế giới. 400 đơn thuốc đã được thu thập tại bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy các thông tin về bệnh nhân như họ tên, tuổi, giới tính được ghi đầy đủ trong tất cả các đơn thuốc. Có 21,25% đơn thuốc viết tắt chẩn đoán. Tên thuốc, nồng độ, số lượng và đường dùng thuốc được ghi đầy đủ cho 100% số thuốc. Tổng số có 1314 thuốc được kê trong 400 đơn. Số thuốc trung bình trong một đơn là 3,29±1,32 thuốc. Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê theo tên chung quốc tế và thuốc trong danh mục thuốc thiết yếu là 29,45% và 39,27%. Tỷ lệ đơn thuốc kê kháng sinh và thuốc tiêm lần lượt là 40,50% và 3,5%.
6 Đặc điểm lâm sàng và nhân cách ở bệnh nhân rối loạn phân ly tại khoa Tâm thần bệnh viện Trung ương Thái Nguyên / Nguyễn Đắc Vinh, Đàm Thị Bảo Hoa, Trịnh Quỳnh Giang // .- 2020 .- Số 5 .- Tr. 3-9 .- 610
Tỷ lệ các rối loạn tâm thần ngày càng gia tăng ở các nước đang phát triển, đặc biệt là sự gia tăng các rối loạn liên quan đến stress trong đó có rối loạn phân ly. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và nhân cách ở 32 bệnh nhân rối loạn phân ly điều trị tại khoa Tâm thần, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019. Kết quả nghiên cứu cho thấy, rối loạn phân ly xuất hiện đột ngột ở 100% các trường hợp nghiên cứu và xảy ra sau sang chấn tâm lý, chủ yếu là sang chấn trong gia đình (46,88%) và sang chấn trong công việc (34,37%). Triệu chứng khởi phát thường giống các bệnh lý thực thể. Triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là co giật phân ly (56,25%), triệu chứng thực vật nội tạng phân ly biểu hiện nhiều trên lâm sàng, trong đó đau đầu (43,75%) và khó thở (31,25%) là triệu chứng phổ biến. Các rối loạn tâm thần kết hợp với rối loạn phân ly chiếm tỷ lệ cao, trầm cảm (53,12%) và lo âu (40,62%). Rối loạn phân ly thường xảy ra ở những người có nhân cách hướng ngoại (62,5%); đa số các bệnh nhân có tính thần kinh không ổn định (78,13%).
7 Nghiên cứu áp dụng APA trong chống chuyển giá của doanh nghiệp FDI Trung Quốc / Đỗ Thị Lan Anh // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 5 .- Tr. 40-45 .- 658
Việc gia tăng số lượng doanh nghiệp FDI đầu tư vào Trung Quốc đã khiến tình hình chuyển giá ở nước này trở nên rất phức tạp. Đã có rất nhiều biện pháp cứng rắn và quyết liệt nhằm chống chuyển giá của doanh nghiệp FDI đã được Trung Quốc thực hiện, trong đó việc áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế đã và đang đem đến những hiệu quả cao, đặc biệt là đối với trường hợp mà cách thức quản lý thuế truyền thống bằng thanh tra, kiểm tra khó áp dụng.
8 Xây dựng mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam / Nguyễn Mạnh Cường // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 5 .- Tr. 56-65 .- 658
Bài viết nghiên cứu mô hình diễn tả ảnh hưởng của môi trường đầu tư đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Từ mô hình lý thuyết dự kiến, phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để kiểm nghiệm và hoàn thiện các thang đo với mẫu gồm giám đốc và các chuyên gia. Bằng việc thực hiện kiểm định độ tin cậy và phân tích nhân tố khám phá trên mẫu doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, mô hình thu được có sự khác biệt đáng chú ý, đó là sự xuất hiện của nhân tố mới là "hiệu quả quản trị hành chính". Kết quả nghiên cứu cho thấy quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được giải thích bởi môi trường đầu tư qua các yếu tố thành phần gồm: chính trị, pháp luật; hiệu quả quản trị hành chính; cơ sở hạ tầng; chi phí; thị trường và văn hóa xã hội.
9 Điều kiện nuôi thích hợp cho sinh trưởng của vi khuẩn probiotic Lactobacillus acidophilus VTCC 12257 ở quy mô phòng thí nghiệm và thiết bị lên men 30 I / Đào Thị Lương, Hà Thị Hằng, Dương Văn Hợp // Khoa học Công nghệ Việt Nam - B .- 2020 .- Số 6(Tập 62) .- Tr.58-64 .- 530
Nghiên cứu chủng VTCC 12257 về động học sinh trưởng cho sản xuất sinh khối cao ở quy mô phòng thí nghiệm và trong thiết bị lên men 30 I. Đây được coi là bước khởi đầu để sản xuất ở quy mô công nghiệp cho vi khuẩn probiotic này.
10 Khảo sát sự phân hủy toluene và chlorotoluene bởi vi khuẩn Comamonas testosterone KT5 cố định trọng alginate / Hà Danh Đức // .- 2020 .- Số 6(Tập 62) .- Tr.1-6 .- 570
Trình bày khảo sát sự phân hủy toluene và chlorotoluene bởi vi khuẩn Comamonas testosterone KT5 cố định trọng alginate. Vi khuẩn Comamonas testosterone KT5 là loại vi khuẩn có khả năng làm sạch toluene cũng như chlorotoluene dạng cố định tốc độ cao hơn so với dạng tự do. Ngoài ra, vi khuẩn cố định trong alginate còn có thể phân hủy tốt hơn so với dạng tự do ở độ pH quá thấp hay quá cao.