Hiện tượng "tự lừa dối" thể hiện sai lệch trong xử lý thông tin của nhà cung cấp đầu tư khi gặp những thông tin không xử lý được. Thay vì đưa ra các quyết định lý trí như tìm hiểu bản chất của thông tin để đưa ra đúng đắn, nhà đầu tư lại hành động phi lý, liên hệ và quy thông tin chưa biết thành dạng bản thân đã biết. Bài viết nghiên cứu cơ sở lý luận của tài chính hành vi và thiên lệch "tự lừa dối", qua việc sử dụng kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm định hệ só hồi quy và hiện tượng đa cộng tuyế. Từ đó, xác định mức độ ảnh hưởng của các thiên lệch trong nhóm thiên lệch "tự lừa dối" đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhóm tác giả đề xuất các giải pháp góp phần giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của các thiên lệch này đến nhà đầu tư và thị trường.
Theo chương trình xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 cả nước có khoảng 40-50% số đạt chuẩn nông thôn mới. Để thắng lợi mục tiêu này cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phương diện tiếp cận quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Bài viết tiếp cận vấn đề quản lý xã hội ở nông thôn trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở một số khía cạnh: Chủ thể quản lý, nội dung quản lý, phương tiện quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số nhận định và yêu cầu đặt ra đối với quản lý xã hội ở nông thôn mới hiện nay.
Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mỗi quốc gia. Nhận thức được vấn đề này, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những chính sách đặc biệt, trực tiếp ưu đãi cho sự phát triển của ngành công nghiệp này. Nghiên cứu chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở một số nước, bài viết gợi mở một số vấn đề Việt Nam cần lưu ý tham khảo để ứng dụng vào trong quá trình phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh, tác động đến mọi mặt trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Mặc dù không nằm trong 9 khu vực, lĩnh vực được đánh giá là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nhưng làn sóng công nghệ mới này cũng đang tạo ra những thay đổi rõ rệt trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt làm thay đổi kênh phân phối và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống.
Tín dụng bán lẻ là một hoạt động quan trọng của các ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, hoạt động này có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng gặp không ít khó khăn và thử thách. Để đẩy mạnh hiệu quả hoạt động ngân hàng công tác tín dụng bán lẻ cần được chú trọng quan tâm. Các ngân hàng thương mại cần tận dụng cơ hội và có giải pháp hiệu quả thích ứng với những yêu cầu mới của Cách mạng công nghiệp 4.0.
Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong công tác xoá đói giảm nghèo. Để có được thành công, bên cạnh các cơ chế, chính sách của chính phủ, sự hỗ trợ hợp tác của các tổ chức trong nước và quốc tế, vai trò của nguồn vốn tín dụng có ý nghĩa rất lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực của nguồn vốn tín dụng, trong quá trình thực hiện chính sách tín dụng cho công tác giảm nghèo bền vững ở Việt Nam vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế. Bài viết đề cập đến các giải pháp tăng cường cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách cho người nghèo ở Việt Nam.
Khởi nghiệp là một chủ trương và nhận định đúng đắn được Chính phủ quan tâm, ưu tiên thực hiện trong giai đoạn hiện nay. Cùng với hệ thống chính sách đã ban hành, thời gian qua nhiều hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp đã được triển khai mạnh mẽ ở các cấp địa phương, góp phần hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động khởi nghiệp, nhất là khởi nghiệp trong thanh niên hiện nay vẫn đang đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi các biện pháp hỗ trợ phải được thiết kế phù hợp và thống nhất, thúc đẩy hơn nữa hoạt động này trong thời gian tới.
Theo qui định tại Thông tư số 19/2016/TT-NHNN, thẻ tín dụng được sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ; nạp, rút tiền mặt theo thoả thuận giữa chủ thẻ với tổ chức phát hành thẻ và khi sử dụng thẻ tín dụng, chủ thẻ phải sử dụng tiền đúng mục đích và thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức phát hành thẻ. Tuy nhiên, việc rút tiền mặt qua thẻ tín dụng hiện nay có thể tạo nhiều nguy cơ vỡ nợ cá nhân, rủi ro mất khả năng thanh toán thẻ tín dụng, dẫn đến làm gia tăng nợ xấu của ngân hàng.
Tại Việt Nam, kể từ năm 2009 đến nay, việc ghi nhận và xử lý chêch lệch tỷ giá trên báo cáo tài chính đã có nhiều thay đổi. Sự thay đổi này có ảnh hưởng không nhỏ đến các thông tin trên báo cáo tài chính mà nhà đầu tư sử dụng để phân tích tình hình tài chính của các công ty. Qua việc sử dụng mẫu nghiên cứu là 154 công ty cổ phần phi tài chính niên yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong gia đoạn 2009-2017, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra phản ứng tích cực của nhà đầu tư đối với việc áp dụng Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp. Nghiên cứu này cho thấy, sự thay đổi trong chính sách kế toán đối với việc ghi nhận và xử lý chêch lệch tỷ giá của Chính phủ và Bộ Tài chính là phù hợp, phản ánh đúng bản chất của các khoản mục liên quan của chênh lệch tỷ giá.
Bằng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp từ 300 khách hàng đang sử dụng thẻ ATM tại Ngân hàng TMCP Công Thương chi nhánh Trà Vinh (Vietinbank Trà Vinh) và 05 phòng giao dịch tại các huyện trên địa bàn tỉnh Trà Vinh; đồng thời, kế thừa và sử dụng mô hình hồi quy đa biến, nghiên cứu này đã tìm ra được 5 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thẻ ATM tại Vietinbank Trà Vinh gồm: sự đảm bảo, sự tin cậy, mạng lưới ATM, phí dịch vụ thẻ, đa tiện ích. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ ATM tại Vietinbank nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của khách hàng.