CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Tác động của các sự kiện vĩ mô đến lợi suất trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Phan Trần Trung Dũng, Vũ Văn Đức // .- 2020 .- Số 739 .- Tr. 32 - 35 .- 330
Bài viết nghiên cứu tác động sự kiện vĩ mô đến lợi suất trên thị trường chứng khoán Việt Nam, áp dụng nghiên cứu sự kiện để xác định tác động của sự kiện lên lợi suất trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cũng như tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam.
2 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Phan Nam Giang // Tài chính - Kỳ 1 .- 2020 .- Số 732 .- Tr.79 - 81 .- 332
Nghiên cứu này xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dựa trên các khung lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm và kết quả nghiên cưua định tính, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố (Sự ghét lỗ, sự tiếc nuối, tình huống điển hình, sự quá tự tin, bám vào giá trị đã thiết lập, hành vi đám đông). Thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá(EFA) và phân tích hồi quy bội, kết quả nghiên cứu cho thấy, có 4 nhóm nhân tố chính tác động đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
3 Một số vấn đề về kê khai thuế giá trị gia tăng đối với hàng bán bị trả lại / Trương Thu Hương // Tài chính - Kỳ 1 .- 2020 .- Số 732 .- Tr.73 -75 .- 657
Trong quá trình bán hàng hoá, việc khách hàng trả lại hàng hoá do các nguyên nhân khác nhau là việc thường gặp trong thực tiễn. trong trường hợp này người bán hàng phải xử lý thế nào? Kê khai thuế đối với hàng bán bị trả lại thế nào? Đây là những vấn đề đặt ra đối với công tác kế toán phải xử lý, đảm bảo qui định của Nhà nước. Để hướng dẫn doanh nghiệp kê khai thuế giá trị gia tăng đối với hàng bán bị trả lại theo đúng qui định, mới đây, Tổng cục Thuế đã ban hành công văn số 1788/TCT - DNL về kê khai thuế giá trị gia tăng và hàng bị trả lại, kê khai thuế hàng bị trả lại.
4 Đổi mới Marketing giúp doanh nghiệp vượt qua thách thức trong cách mạng công nghiệp 4.0 / Đặng Thị Hồng Vân // Tài chính - Kỳ 1 .- 2020 .- Số 732 .- Tr.88 - 91 .- 658
Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam. Những khó khăn lớn các DN gặp phải là thiếu thốn, công nghệ, nguồn nhân lực; năng lực quản trị yếu; tiếp cận thông tin thị trường, đặc biệt, trong các hoạt động tiếp thị, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngại thay đổi, chưa nghiên cứu và nắm bắt thông tin thị trường một cách nhanh nhạy dẫn đến hàng hoá sản xuất không được tiêu thụ; chi phí tiếp thị lớn mà không mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp.
5 Kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo tại Kho bạc Nhà nước Bắc Kạn / Trương Thu Hương // Tài chính - Kỳ 1 .- 2020 .- Số 732 .- Tr.73 - 75 .- 657
Luật Ngân sách nhà nước đã đi vào cuộc sống và đạt nhiều kết quả quan trọng trong quản lý kiểm soát chi ngân sách nhà nước, góp phần xây dựng nền tài chính quốc gia vững mạnh, tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đạt được những kết quả đó, một trong những qui trình quản lý có sự tham gia của công tác quản lý kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước đã có những chuyển biến tích cực. Bài viết phân tích những kết quả đã đạt được, công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực giáo dục đào tạo qua Kho bạc Nhà nước Bắc Kạn, nêu ra một số hạn chế và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện kiểm soát chi ngân sách nhà nước.
6 Nhận diện chuyển đổi quan hệ lao động công nghiệp: những thách thức pháp lý đặt ra cho Việt Nam / Đoàn Thị Phương Diệp, Hồ Đức Hiệp // Tài chính - Kỳ 2 .- 2019 .- Số 709 .- Tr.31-34 .- 340
Sau 3 thập kỷ đổi mới, quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường được hình thành và phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, quan hệ lao động hiện đang tồn tại nhiều cấp bậc, đặc biệt là các cơ chế đối thoại, thương lượng và giải quyết tranh chấp lao động tập thể. Vì vậy, để khơi thông các nguồn lực phát triển cần phải đổi mới hệ thống quan hệ lao động cho phù hợp cơ chế thị trường. Cùng với đó, vai trò của Nhà nước trong quan hệ lao động cần dịch chuyển từ chỉ đạo trực tiếp sang tạo dựng khuôn khổ pháp lý và hỗ trợ các bên tương tác.
7 Xây dựng khung pháp lý về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết – Kinh nghiệm của Thái Lan / Lưu Minh Sang, Lê Thị Thùy Dương // Nghiên cứu Lập pháp .- 2020 .- Số 16 (416) .- Tr. 55 - 64 .- 340
Luật Chứng khoán năm 2019 đã ghi nhận chứng chỉ lưu ký như là một loại chứng khoán hợp pháp tại Việt Nam. Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng đã bổ sung quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết. Việc lần lượt ghi nhận loại chứng khoán này vào các đạo luật như là một bước chuẩn bị khung pháp lý cho việc triển khai tại Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ mới dừng ở việc định danh, chưa có một khung pháp lý cho loại chứng khoán này. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả tập trung phân tích sự cần thiết của việc xây dựng khung pháp lý về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết từ kinh nghiệm của Thái Lan.
8 Trùng tố trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế / Ngô Quốc Chiến, Nguyễn Thảo Linh // Nghiên cứu Lập pháp .- 2020 .- Số 17 (417) .- Tr. 3 - 12 .- 340
Trùng tố trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế xảy ra ngày càng nhiều và để lại nhiều hệ lụy đối với các bên tham gia quan hệ đầu tư quốc tế, sự ổn định của hệ thống pháp luật quốc tế và mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia. Tham gia tích cực vào tự do hóa thương mại và đầu tư, Việt Nam hoàn toàn có thể gặp trùng tố trong tương lai. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả tập trung trình bày, phân tích nguồn gốc, nguyên nhân và biểu hiện của trùng tố; ảnh hưởng của trùng tố trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; thực tiễn xét xử một số vụ trùng tố trên thế giới; nguy cơ trùng tố trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị đối với Việt Nam.
9 Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng / Trương Nhật Quang, Lê Trần Quỳnh Thi // Nghiên cứu Lập pháp .- 2020 .- Số 17 (417) .- Tr. 13 - 21 .- 340
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, một hợp đồng thông thường có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác nhau, như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 và các luật chuyên ngành điều chỉnh lĩnh vực đặc thù. Trong trường hợp như vậy, việc các luật này có quy định khác nhau hoặc có tính chất đặc thù khi điều chỉnh về cùng một vấn đề pháp lý là điều khó tránh khỏi. Hiện nay, một số cơ quan xét xử và cơ quan áp dụng pháp luật dường như có xu hướng ưu tiên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 hơn so với Luật Thương mại năm 2005 khi luật chuyên ngành không có quy định điều chỉnh, đặc biệt trong bối cảnh các hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng và ngân hàng. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả trình bày các nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trên cơ sở các quy định hiện hành tại Việt Nam để hạn chế các rủi ro phát sinh từ xu hướng áp dụng pháp luật hiện nay.
10 Công khai, minh bạch trong lĩnh vực an sinh xã hội / Hoàng Thị Hường, Bùi Thị Hơn // Nghiên cứu Lập pháp .- 2020 .- Số 17 (417 .- Tr. 22 - 28 .- 340
Tập trung làm rõ khái niệm công khai, minh bạch trong lĩnh vực an sinh xã hội, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về công khai, minh bạch trong lĩnh vực an sinh xã hội hiện nay; đề xuất một số giải pháp nhằm thức đẩy thực hiện công khai, minh bạch trong lĩnh vực này.