Bài viết thu thập dữ liệu giá đóng cửa chứng khoán theo ngày ở các thị trường Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam trong thời gian từ tháng 01 năm 2010 đến đầu tháng 9 năm 2019 để phân tích mối liên hệ giữa thị trường Việt Nam, Trung Quốc và Mỹ bằng cách sử dụng kết hợp các kỹ thuật phân rã CEEMDAN, kỹ thuật fine - to - coarse và kiểm định tác động Granger. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa thị trường Việt Nam với thị trường Trung Quốc diễn ra trong một xu thế trung hạn, trong khi những biến động ngắn hạn mang tính thời sự cũng như những biến động dài hạn mang tính xu thế trên thị trường Mỹ lại gây ra một tác động mạnh trên thị trường Việt Nam. Bài viết hàm ý rằng các nhà đầu tư khi dự đoán cho thị trường Việt Nam cần lưu ý kết hợp thông tin dài hạn mang tính xu thế và thông tin ngắn hạn mang tính thời sự từ thị trường Mỹ với thông tin trung hạn thu được từ thị trường Trung Quốc.
Bài viết nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có hoạt động sáp nhập. Các tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 8 ngân hàng thương mại có hoạt động sáp nhập, thời gian nghiên cứu từ năm 2009 đến 2018 và phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS). Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lời và tác động này có xu hướng giảm nhẹ sau khi các ngân hàng thực hiện sáp nhập. Đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra rằng tỷ suất sinh lời của các ngân hàng sau sáp nhập có xu hướng suy giảm so với trước sáp nhập.
Mục tiêu của bài viết này là nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng từ 502 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trong giai đoạn 2012-2017. Phương pháp GMM hệ thống được áp dụng để kiểm định tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sở hữu nhà nước có mối quan hệ hình chữ U với hiệu quả doanh nghiệp trong khi sở hữu nước ngoài và mức độ tập trung sở hữu có mối quan hệ hình chữ U ngược với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Các hàm ý quản trị được gợi ý trong bài viết giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán nhằm tăng cường lòng tin của các nhà đầu tư.
Bài báo thực hiện kiểm tra ảnh hưởng của các nhân tố tới thu ngân sách địa phương ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015. Kết quả chỉ ra rằng, tăng trưởng kinh tế địa phương tác động tích cực đến thu ngân sách địa phương tuy nhiên khi quy mô thu ngân sách địa phương tăng ở mức độ thấp, tăng trưởng kinh tế địa phương tăng lên không dẫn tới sự tăng lên trong thu ngân sách/GDP. Bên cạnh đó các nhân tố như quy mô dân số, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản/GDP, độ mở thương mại, bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương cho các địa phương có tác động ngược chiều tới thu ngân sách/GDP. Đặc biệt, nghiên cứu đưa vào mô hình biến tương tác PCIGDP để đánh giá vai trò của chất lượng thể chế trong mối quan hệ giữa GDP và thu ngân sách/GDP. Kết quả cho thấy, chất lượng thể chế ở địa phương đang là nhân tố kìm hãm tác động của tăng trưởng kinh tế địa phương lên thu ngân sách địa phương.
Sự hiểu biết về hợp tác kinh tế của các hộ trồng rừng sản xuất là rất quan trọng để hướng tới phát triển các mô hình kinh tế hợp tác hiện nay, một trong những mô hình kinh tế phù hợp nhất cho quy mô sản xuất nhỏ, manh mún trong lĩnh vực nông lâm nghiệp. Trong bài báo này, chúng tôi dựa trên mô hình lý thuyết hành vi của A. Heidenberg (2002) tiến hành điều tra khảo sát 120 hộ trồng rừng sản xuất ở tỉnh Yên Bái, với 2 nhóm hộ tham gia hợp tác kinh tế và không hợp tác kinh tế. Kết quả cho thấy giữa 2 nhóm hộ, kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế trong trồng rừng sản xuất của nhóm hộ hợp tác kinh tế tốt hơn. Trong các biến độc lập, nhóm nhân tố thuộc về đặc điểm sản xuất của các hộ, nhận thức của hộ và nhóm nhân tố thuộc về nguồn thông tin có tác động khá mạnh đến quyết định tham gia hợp tác kinh tế của họ.
Nghiên cứu này đóng góp vào kiến thức chung về các nhấn tố ảnh hưởng đến sự gắn kết thương hiệu thông qua việc xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến sự gắn kết thương hiệu trong bối cảnh dịch vụ khách sạn lưu trú. Trong đó, mối quan hệ giữa trải nghiệm, cam kết và gắn kết được thảo luận và khám phá. Bên cạnh đó, sự tham gia thương hiệu với vai trò là biến trung gian và điều tiết cũng được kiểm định trong nghiên cứu này. Dựa trên một mẫu 250 du khách quốc tế, phương pháp bình phương bé nhất riêng phần (PLS) được sử dụng để kiểm định độ tin cậy, độ giá trị thang đo cũng như giả thuyết nghiên cứu. Kết quả cho thấy các giả thuyết đều được ủng hộ bởi dữ liệu. Do đó, nghiên cứu có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn.
Mặc dù lãnh đạo cấp cao đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực động của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo phục vụ đến năng lực động trực tiếp và gián tiếp thông qua hệ thống quản lý nhân sự ít nhận được sự quan tâm. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy phong cách lãnh đạo phục vụ ảnh hưởng dương đến các thành phần của năng lực động bao gồm sự thấu hiểu, sự nắm bắt cơ hội và sự tái cấu trúc. Hơn nữa, hệ thống phát triển nhân sự tập trung vào kỹ năng là trung gian một phần liên kết tác động dương của phong cách lãnh đạo phục vụ đến sự thấu hiểu và sự nắm bắt cơ hội. Thêm vào đó, hệ thống phát triển nhân sự tập trung vào chức năng là trung gian một phần liên kết tác động dương của phong cách lãnh đạo phục vụ đến sự tái cấu trúc.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu và kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố thành phần của nhận thức rủi ro, nhận thức tính hữu ích, nhận thức giá trị và sự hài lòng và ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng. Nghiên cứu sử dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để phân tích mẫu gồm 670 người tiêu dùng đã và đang sử dụng ví điện tử ở thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử chịu tác động trực tiếp từ sự hài lòng và gián tiếp từ các yếu tố: nhận thức giá trị, nhận thức hữu ích, rủi ro tài chính, rủi ro riêng tư, rủi ro hiệu quả, rủi ro thời gian. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng.
Thuật ngữ “du lịch có trách nhiệm” ngày càng phổ biến trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam. Tuy vậy, phát triển du lịch có trách nhiệm tại Việt Nam mới chỉ trong giai đoạn ban đầu và còn nhiều rào cản cho việc mở rộng du lịch có trách nhiệm. Các doanh nghiệp du lịch đóng vai trò trung tâm trong thực hiện du lịch trách nhiệm, tuy nhiên những hiểu biết về hiện trạng du lịch có trách nhiệm của các doanh nghiệp đặc biệt là về năng lực, hành động, và những yếu tố thuộc về động cơ thúc đẩy, những rào cản hay những yếu tố ảnh hưởng cũng còn thiếu. Vì vậy, thông qua phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, nghiên cứu sẽ đánh giá thực trạng thực hiện và tác động của yếu tố tổ chức đến dự định thực hiện du lịch có trách nhiệm của doanh nghiệp lữ hành ở Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng yếu tố động lực nhóm, chính sách thưởng phạt, và quy mô doanh nghiệp tạo ra ảnh hưởng đến dự định thực hiện du lịch có trách nhiệm.
Sử dụng dữ liệu tổng điều tra kinh tế 2012 và 2017 của Tổng cục Thống kê, nghiên cứu này xem xét tác động của kinh tế số đối với năng suất lao động của các ngành kinh tế qua hai phương pháp (i) ước lượng tác động ngẫu nhiên (REM) và (ii) điểm xu hướng (PSM). Kết quả cho thấy kinh tế số có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực đến doanh nghiệp toàn nền kinh tế cũng như trong các ngành kinh tế. Tuy nhiên, có sự khác biệt về mức độ tác động giữa các ngành. Thông tin- truyền thông và Khoa học- công nghệ là hai ngành tận dụng tốt nhất kinh tế số để gia tăng năng suất lao động, trong khi đó, ngành nông lâm thủy sản; và chế biến chế tạo là hai ngành có mức độ tác động của kinh tế số là thấp nhất. Các kết quả này mở ra hàm ý chính sách trong giai đoạn tới nhằm tận dụng tốt các cơ hội từ kinh tế số để thúc đẩy gia tăng năng suất lao động của các ngành và toàn nền kinh tế.