Đại dịch Covid-19 đã có ảnh hưởng tiêu cực và sâu rộng tới nền kinh tế thế giới, trong đó có ngành du lịch, vốn là một ngành rất nhạy cảm với biến động chính trị - xã hội. Quá trình phòng chống và khắc phục hậu quả của dịch covid-19 còn kéo dài và đòi hỏi nhiều nỗ lực của các cấp ngành nhưng nhờ đó, ngành du lịch đang có và ngày càng nhiều hơn sự thay đổi về phương thức quản lý và mô hình kinh doanh. Chuyển đổi số là một hướng đi cơ bản để nhanh chóng chuyển du lịch thành một ngành kinh tế số và góp phần thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển trở lại trong những năm tới. Bài viết dưới đây dựa trên báo cáo đề dẫn trình bày tại diễn đàn.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn 4.0. Cuộc cách mạng này tạo ảnh hưởng sâu rộng, bao trùm toàn bộ các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế trong đó có ngành du lịch. Đánh giá lợi thế và thách thức nhằm tìm ra các giải pháp thúc đẩy phát triển ngành du lịch trong kỷ nguyên số là đòi hỏi mang tính cấp thiết trong tình hình mới.
Ngay sau khi Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức có hiệu lực vào đầu năm 2019, thủ tướng chính phủ đã phê duyệt kế hoạch thực hiện CPTPP tại Quyết định số 121/QĐ –TTG ngày 24/1/2019 với những nhiệm vụ cụ thể, chi tiế cho các bộ, ngành liên quan thực hiện các công việc cụ thể theo lộ trình, bao gồm 5 nhóm nội dung chính.
Bài viết tập trung phân tích thực trạng nguồn nhân lực quản trị cấp cao trong lĩnh vực khách sạn tại các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Thuận, Khánh Hoà và thành phố Đà Nẵng, làm cơ sở để tham mưu cho cơ quan quản lý nhà nước các cấp về du lịch, các doanh nghiệp du lịch và các cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch quản trị cấp cao, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Bài viết này hướng tới phân tích các vấn đề cơ bản trong phát triển du lịch vùng duyên hải Nam Trung Bộ, đồng thời, bước đầu nhận diện những vấn đề đặt ra đối với việc áp dụng mô hình tăng trưởng xanh trong phát triển du lịch vùng thời gian tới, làm tiền đề cho việc đưa ra các giải pháp và kiến nghị đối với cơ quan, ban ngành nhằm cải thiện và đưa du lịch biển đảo trở thành một trong những thế mạnh của du lịch Việt Nam trong tương lai.
Để duy trì an ninh trật tự hoạt động du lịch cần có sự phối hợp tích cực giữa các ngành, đặc biệt là sự phối hợp giữa ngành công an và ngành du lịch. Bài viết đánh giá thực trạng công tác đảm bảo an ninh trật tự trong hoạt động du lịch tại Quảng Ninh và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác này trong giai đoạn tới.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục không thế thiếu và buộc phải có trong cách mạng công nghệ 4.0. Nước Mỹ, các nước EU và Châu Á đã có quá trình ứng dụng CNTT trong giáo dục rất hiệu quả. Việt Nam đã bước đầu ứng dụng CNTT để đối mới giáo dục. Trong đại dịch Covid-19, nhiều nước trên thế giới dạy và học trực tuyến, cho thấy vai trò đặc biệt của ứng dụng CNTT vào giáo dục ở tình huống không thể dạy trực tiếp. Vì thế, Việt Nam không thể không ứng dụng CNTT để nâng cao năng lực giáo dục du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Thực tế ảo (VR) là một công nghệ mới nổi được áp dụng trong lĩnh vực du lịch, nó cung cấp cho người dùng cơ hội trải nghiệm điểm đến một cách chân thực trong môi trường ảo. Tuy nhiên, nghiên cứu về giá trị trải nghiệm của khách du lịch đối với các điểm đến được quảng bá trong marketing du lịch VR vẫn còn hạn chế. Dựa trên mô hình SOR, nghiên cứu này xây dựng và kiểm định một mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hiện diện trong môi trường VR, giá trị trải nghiệm về mặt nhận thức và cảm xúc và ý định hành vi của khách du lịch đối với điểm đến. Sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) với phần mềm SmartPLS, kết quả phân tích dựa trên 305 mẫu khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng cảm nhận sự hiện diện tác động đáng kể đến giá trị trải nghiệm về mặt nhận thức và cảm xúc, và các giá trị trải nghiệm này tác động tích cực đến dự định hành vi của khách du lịch sau khi sử dụng du lịch VR. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã chỉ ra giá trị trải nghiệm về mặt nhận thức và cảm xúc là các trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa cảm nhận sự hiện diện trong môi trường VR và ý định hành vi đối với điểm đến của khách du lịch. Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với các tổ chức quản lý điểm đến trong việc sử dụng công nghệ VR để quảng bá điểm đến và tạo ra giá trị trải nghiệm cho khách du lịch tiềm năng, từ đó tăng khả năng viếng thăm điểm đến của họ.
Nghiên cứu này phát triển dựa trên tích hợp hai lý thuyết: hành vi dự định và giá trị kỳ vọng. Một mẫu nghiên cứu theo hạn ngạch được điều tra từ 220/250 cư dân ven vịnh biển Nha Trang. Kết quả 9/9 giả thuyết được ủng hộ. Ý định hành vi giảm thiểu sử dụng túi nhựa của cộng đồng ven biển chịu tác động bởi nhận thức tác hại môi trường; nhận thức tác hại sức khỏe của túi nhựa; trách nhiệm môi trường; và kết cục tương lai, trong khi thái độ với việc bảo vệ môi trường ven biển đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa các nhân tố trên. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm giúp cư dân ven biển nâng cao ý thức bảo vệ môi trường du lịch biển đảo, góp phần phát triển du lịch biển hướng đến tính bền vững tại vịnh Nha Trang.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính thế giới và các yếu tố bên trong, bên ngoài đến khả năng sinh lời (KNSL) của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam. Bằng cách sử dụng dữ liệu của 30 NHTM Việt Nam và dữ liệu vĩ mô từ năm 2007 đến năm 2018, cùng với cách tiếp cận theo phương pháp Bayes và thuật toán lấy mẫu Gibbs, nghiên cứu cho thấy khủng hoảng tài chính, quy mô ngân hàng, vốn ngân hàng, tài sản thanh khoản, tiền gửi khách hàng, dư nợ cho vay có tác động tích cực đến KNSL. Các yếu tố có tác động ngược lại là dự phòng rủi ro tín dụng, chi phí trả lãi, chi phí hoạt động.