CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Biện pháp khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính / Nguyễn Nhật Khanh // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2020 .- Số 07(137) .- Tr.7 – 21 .- 340
Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là một trong những phương thức bảo đảm thực hiện quyền lực nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Để thi hành quyết định xử phạt, cơ quan nhà nước có thẩm quyền được áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau, trong đó có biện pháp “ khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhan, tổ chức vi phạm”. Bài viết phân tích một số hạn chế của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế này, đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện.
2 Quy định pháp luật về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm: Thực tạng và kiến nghị / Phan Phương Nam // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2020 .- Số 07(137) .- Tr.22 – 32 .- 340
Bài viết tập trung phân tích những điểm cơ bản của hoạt động chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm, những bất cập của quy định pháp luật về hoạt động chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm như: chưa có quy định phù hợp cho từng loại hợp đồng bảo hiểm cụ thể; chưa có những quy định về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm làm cho thay đổi yếu tố rủi ro, chưa dự phòng chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm làm cho thay đổi yếu tố rủi ro, chưa dự phòng chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm do bên mua bảo hiểm bị mất năng lực...Dựa trên sự phân tích đó, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật trong vấn đề này.
3 Một số vấn đề pháp lý về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước tại Việt Nam / Trần Linh Huân // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2020 .- Số 07(137) .- Tr.33 – 41 .- 340
Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là một trong những vấn đề quan trọng cần phải bảo đảm thực hiện hiệu quả để góp phần vào việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước vẫn còn tồn tại một số bất cập nhất định, vì vậy cần phải có những giải pháp để khắc phục vấn đề này. Bài viết tập trung phân tích, đánh giá làm rõ các vấn đề bất cập trong quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện.
4 Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá không bảo đảm chất lượng gây ra cho người tiêu dùng / Lê Thị Hồng Vân // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2020 .- Số 07(137) .- Tr.42 – 53 .- 340
Bài viết phân tích và bình luận quy định về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá không bảo đảm chất lượng gây ra cho người tiêu dùngtheo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên cơ sở so sánh với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá năm 2007, pháp luật nước ngoài và thực tiễn áp dụng. Qua đó, đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định trên.
5 Bất cập trong pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng làm việc của viên chức và một số kiến nghị / Đoàn Xuân Quang // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2020 .- Số 07(137) .- Tr.64 – 71 .- 340
Giải quyết tranh chấp hợp đồng làm việc của viên chức là một trong những nội dung quan trọng trong Luật Viên chức năm 2010. Bài viết trình bày các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng làm việc của viên chức, phân tích các hạn chế, bất cập, đồng thời đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.
6 Thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài và một số kiến nghị / Trần Quốc Minh, Nguyễn Thị Thu Hằng // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2020 .- Số 07(137) .- Tr.72 – 82 .- 340
Bài viết tập trung nghiên cứu, phân tích cơ chế thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng theo quy định của pháp luật Việt Nam, chỉ ra những bất cập hạn chế trong cơ chế thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Bài viết cũng phân tích cơ chế thu hồi tài sản tham nhũng ngoài thủ tục tố tụng hình sự trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả của việc thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng tại Việt Nam.
7 Hoạt động của các tố chức tài chính vi mô Việt Nam trong bối cảnh phát triển tài chính toàn diện : 10 năm nhìn lại / Lê Thanh Tâm, Ngô Thị Thu Mai // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 6 .- Tr.18-24 .- 332.1
Đánh giá thực trạng hoạt động của các tố chức tài chính vi mô Việt Nam trong 10 năm qua (2010-2019), tập trung vào hai hoạt động chủ chốt: tín dụng, hoạt động tiết kiệm, từ đó đề xuất các giải pháp để các tổ chức này tham gia sâu hơn vào thực hiện chiến lược tài chính toàn diện Việt Nam. Xuất phát từ những tồn tại, trong tương lai chiến lược phát triển tổ chức tài chính vi mô cần tập trung vào một số nội dung cụ thể như: mở rộng phạm vi địa lý tiếp cận ( đặc biệt tại vùng nông thôn và miền núi); đa dạng hóa sản phẩm; tăng cường các hoạt động nâng cao năng lực cho thành viên, đặc biệt về lĩnh vực công nghệ số.
8 Khó khăn trong quản lý rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại Việt Nam / Phan Thị Hoàng Yến // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 6 .- Tr. 25-31 .- 332.12
Tập trung vào những khó khăn mà các ngân hàng thương mại gặp phải trong công tác quản lý rủi ro hoạt động, từ đó đề xuất những khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý rủi ro hoạt động tại NHTM.
9 Quyền làm việc của người lao động khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – bình luận bản án / Lê Phan Minh Hiếu // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2020 .- Số 07(137) .- Tr.108 – 114 .- 340
Quyền làm việc của người lao động khi áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú chưa được quy định cụ thể, có thể là do phát sinh tranh chấp trên thực tế không phổ biến. Thông qua một số ban án tranh chấp về lao động, bài viết sẽ bình luận về khái niệm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, quyền làm việc của người bị áp duungj biện pháp này và đóng góp các kiến nghị cụ thể.
10 Cần giải pháp cụ thể về huy động vốn để phát triển điện lực / Phạm Thanh Hòe // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 6 .- Tr. 32-35 .- 332.12
Bài viết chỉ ra những khó khăn của Việt Nam trong huy động vốn cho phát triển điện lực, đồng thời nêu rõ một số đề xuất, kiến nghị với giải pháp cụ thể về chính sách.