Nghiên cứu này trao đổi về những khái niệm liên quan kế toán quản trị, hệ thống thông tin kế toán quản trị và vai trò điều tiết tiềm năng của phân quyền quản lý. Thông qua lý thuyết dự phòng, bài viết đưa ra một mô hình điều tiết về sự tương tác giữa sự tham gia của kế toán quản trị vào quá trình ra quyết định chiến lược đến mức độ sử dụng thông tin kế toán quản trị trong bối cảnh phân quyền quản lý. Kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết trong tương lai có thể đem lại những hàm ý quản trị cho các nhà quản lý nhằm nâng cao vai trò của hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp.
Một trong những điểm yếu của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sợi tại Việt Nam hiện nay là khả năng kiểm soát chi phí theo phương thức quản lý truyền thống dẫn đến sự mất cạnh tranh về giá sản phẩm. Để cải thiện tình hình này, cần thay đổi phương thức quản lý và kiểm soát được cái chi phí, nhất là việc xác định được giá thành sản phẩm. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy sự cần thiết của kế toán quản trị trong quản lý, điều hành doanh nghiệp, nhất là kế toán chi phí theo mức độ hoạt động là giải pháp quan trọng đã được nhiều nước vận dụng và đánh giá cao về hiệu quả.
Kế toán các khoản doanh thu của hoạt động tài chính tại đơn vị hành chính sự nghiệp là một trong những nội dung quan trọng, thu hút được sự quan tâm của các đối tượng liên quan thời gian qua. Bài viết trao đổi về những vấn đề liên quan đến nghiệp vụ kế toán này; đồng thời, đưa ra một số vấn đề mà cán bộ làm công tác kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp cần lưu ý trong quá trình hạch toán kế toán.
Để tổ chức kiểm toán nội bộ phát huy được vai trò, thực hiện tốt nhiệm vụ của mình thì khâu tổ chức công tác kiểm toán nội bộ và tổ chức bộ máy nội bộ luôn giữ vị trí then chốt. Thực tế tại các quốc gia trên thế giới, các mô hình kiểm toán nội bộ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước được tổ chức khoa học, hợp lý đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả của kiểm toán nội bộ. Bài viết đề cập đến một số mô hình tổ chức kiểm toán nội bộ tại các cơ quan hành chính, sự nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam.
Hoạt động kinh tế chia sẻ vận hành theo phương thức kinh doanh mới, đang góp phần tích cực vào việc tái cấu trúc nhiều ngành nghề kinh tế, nhất là khu vực dịch vụ với nhiều ưu điểm như tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, tạo nhiều cơ hội hơn cho người sử dụng, tăng tính minh bạch và sức cạnh tranh trên thị trường. Tại VN, mô hình kinh tế chia sẻ đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây, thu hút sự quan tâm tham gia của đông đảo doanh nghiệp và người dân.
Hiệp định Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP) mở ra một sân chơi mới với quy mô thị trường chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu dân. CPTPP chắc chắn sẽ mang lại cơ hội cho doanh nghiệp nào chủ động đáp ứng với những thay đổi về môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp cà phê ở Tây Nguyên vẫn chưa chủ động tìm hiểu thông tin, do đó thông tin về các thị trường tiềm năng còn mù mờ. Dự báo trong bối cảnh các điều kiện kinh tế căn bản được giữ nguyên, xuất khẩu của VN có thể sẽ tăng thêm 4,2%, mức tăng xuất khẩu sẽ là 6,9% vào năm 2030, xuất khẩu của VN sang các nước CPTPP sẽ tăng từ 54 tỷ̉ đô-la Mỹ lên 80 tỷ̉ đô-la Mỹ, chiếm 25% tổng lượng xuất khẩu. Đây chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp kinh doanh cà phê ở Tây Nguyên tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Suối Tiên hay Suối Hồng với tài nguyên vô cùng thuận lợi nhưng khai thác du lịch kém hiệu quả, thiếu định hướng và vẫn còn rất nhiều những hoạt động tự phát, không xứng với tiềm năng vốn có của điểm đến. Bằng những dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, bài viết thể hiện các nội dung về tiềm năng, hiện trạng khai thác, chỉ ra những cơ hội và thách thức từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại và đưa ra những định hướng phát triển điểm tham quan suối Tiên trong liên kết vùng, khu vực.
Ngoài vai trò như một kênh huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để phục vụ cho các dự án đầu tư dài hạn, bảo hiểm nhân thọ (BHNT) còn mang ý nghĩa vô cùng to lớn cho từng cá nhân, tổ chức thông qua việc đảm bảo tài chính trước những rủi ro về bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp. Dù chỉ mới có mặt ở VN trong 20 năm nhưng ngành BHNT đã có nhiều đóng góp tích cực cho nền kinh tế và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội. Bài viết với mục tiêu cung cấp một cái nhìn khái quát về thực trạng phát triển của thị trường BHNT VN trong giai đoạn 2015-2019 cũng như phân tích những cơ hội và thách thức mà những doanh nghiệp BHNT sẽ phải đối mặt hậu khủng hoảng Covid-19 để từ đó làm cơ sở cho những khuyến nghị và giải pháp.
Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ Khmer nghèo ở tỉnh Trà Vinh. Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 172 hộ Khmer nghèo ở tỉnh Trà Vinh theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Mô hình hồi quy Binary Logistic được sử dụng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố như: trình độ học vấn, số lao động, tham gia tổ chức đoàn thể ở địa phương, và mục đích vay vốn có ảnh hưởng tích cực đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ Khmer nghèo ở tỉnh Trà Vinh. Ngược lại, yếu tố khoảng cách làm hạn chế khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức.
Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 có tác động đến tình hình xuất khẩu của VN, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chịu ảnh hưởng nhiều hơn, khiến cho kim ngạch xuất khẩu ở khu vực này giảm liên tục trong các tháng 4, 5, 6 và tháng 8 so với cùng kỳ năm ngoái. Điều đáng khích lệ là trước bối cảnh khó khăn chung do đại dịch COVID-19, khu vực kinh tế trong nước có kim ngạch xuất khẩu gia tăng liên tục trong 7 tháng (trừ tháng 1), cho thấy sự nỗ lực của khu vực kinh tế trong nước cũng như các chính sách của nhà nước đã có sự hỗ trợ, động viên mạnh mẽ, kịp thời cho các doanh nghiệp, ngành nghề xuất khẩu thuộc khu vực kinh tế trong nước nói riêng và các doanh nghiệp VN nói chung.