CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Tác động của hệ thống thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam / Đỗ Thị Hải Hà, Mạc Thị Hải Yến // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 287 .- Tr. 55-65 .- 658
Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của hệ thống thuế điện tử đối với tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu dựa trên phương pháp định lượng và được tiến hành với mẫu gồm 435 doanh nghiệp. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy cho thấy hệ thống thuế điện tử có tác động tích cực với mức độ đáng kể tới tuân thủ thuế của các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị để cải thiện hệ thống thuế điện tử nhằm củng cố và nâng cao tính tuân thủ thuế của doanh nghiệp nói riêng và người nộp thuế nói chung.
2 Ước tính tác động của các yếu tố lên thời gian sống sót của khoản vay của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại bằng mô hình LAPLACE / Đoàn Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Minh, Bùi Quốc Hoàn // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 287 .- Tr. 66-75 .- 658
Việc ước lượng và dự báo thời điểm mà khoản vay bị vỡ nợ là bài toán quan trọng trong việc quản trị rủi ro của ngân hàng. Người ta thường sử dụng các mô hình Cox PH hay AFT để nghiên cứu bài toán này. Tuy nhiên, các mô hình này dựa trên giả định là tác động của các biến giải thích lên toàn bộ thời gian sống sót của khoản vay là đồng nhất và giả thiết này là không đúng trong nhiều trường hợp. Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng mô hình Laplace được đề xuất bởi Bottai & Zhang (2010), là mô hình hồi quy phân vị trong phân tích sống sót. Kết quả hồi quy theo phân vị cho thấy tác động của nhiều biến giải thích như tuổi tác, học vấn, tài sản hay vị trí việc làm lên thời gian sống sót của khoản vay là khác nhau theo thời gian và trên các phân vị. Ngoài ra, chỉ số tài chính được đo bằng tỷ số giữa giá trị của khoản vay trên tổng thu nhập là đồng nhất theo thời gian và trên các phân vị.
3 Sự khác biệt giữa các nhóm người tiêu dùng Việt Nam về hành vi tiêu dùng bền vững / Hồ Huy Tựu // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 287 .- Tr. 76-85 .- 658
Nghiên cứu này khám phá sự khác biệt về các hành vi tiêu dùng bền vững (tiêu dùng tiết kiệm, hành vi tốt cho sức khỏe và tuân thủ quy định môi trường) giữa các nhóm người tiêu dùng Việt Nam theo các đặc điểm nhân khẩu. Bên cạnh thu nhập, giới tính, tình trạng hôn nhân, học vấn được nhiều nghiên cứu quan tâm, nghiên cứu này bao gồm thêm các đặc điểm nghề nghiệp, cấu trúc gia đình, tôn giáo và nơi cư trú. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể về các hành vi tiêu dùng bền vững giữa các nhóm. Từ đó, các hàm ý chính sách được đề nghị phù hợp với từng đặc điểm nhân khẩu của các nhóm người tiêu dùng khác nhau.
4 Vai trò của trình độ học vấn và giới tính của chủ hộ trong cầu đại học của các hộ gia đình / Trương Nhật Hoa, Nguyễn Khắc Minh, Phùng Mai Lan // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 287 .- Tr. 86-94 .- 658
Nghiên cứu trình bày một phân tích kinh tế vi mô về cầu đại học của các hộ gia đình sau khi con/em họ tốt nghiệp phổ thông. Sử dụng dữ liệu điều tra hộ gia đình 2018 của Tổng cục Thống kê Việt Nam, nghiên cứu ước lượng 3 mô hình logit (toàn mẫu, mẫu các hộ nghèo và mẫu các hộ thu nhập trên trung bình), được xem như một trường hợp đặc biệt của mô hình tổng quát về cực đại lợi ích để giải quyết vấn đề lựa chọn giáo dục đại học. Kết quả đã chỉ ra những phát hiện hết sức thú vị: (i) khoản chi tiêu dự tính trước cho giáo dục tương lai càng lớn hay trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì xác suất cầu vào đại học cho con/em càng lớn; (ii) trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì khoảng cách ra quyết định cầu đại học giữa của chủ hộ là nam và nữ càng giảm; (iii) với hộ nghèo, chủ hộ (dù nam hay nữ) có trình độ học vấn cao thì xác suất ra quyết định cầu đại học hầu như không có sự khác biệt.
5 Tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến năng suất lao động tỉnh Hà Giang: Cách tiếp cận từ phương pháp chuyển dịch tỷ trọng / // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 287 .- Tr. .- 330
Nghiên cứu này nhằm phân tích đặc điểm năng suất lao động và lượng hóa tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng năng suất lao động tỉnh Hà Giang trong giai đoạn 2015-2019. Sử dụng phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng, kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng năng suất lao động tỉnh Hà Giang là do hiệu ứng dịch chuyển tĩnh và tăng năng suất lao động nội ngành, khiến lao động dịch chuyển sang các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn. Trong khi đó, hiệu ứng dịch chuyển động có tác động ngược chiều, phản ánh sự thay đổi tỷ trọng lao động chưa tương xứng với mức gia tăng năng suất lao động của tỉnh. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị đã được đề xuất nhằm cải thiện chất lượng tăng năng suất lao động của tỉnh Hà Giang.
6 Công tác kế toán tài chính của doanh nghiệp siêu nhỏ nhìn từ kế toán các khoản nợ phải thu / Lê Thị Oanh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 95-97 .- 657
Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán. Trong hoạt động kế toán tài chính tại doanh nghiệp thì kế toán các khoản nợ phải thu là một trong nhiệm vụ hết sức quan trọng, nhằm đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp. Bài viết trao đổi về nguyên tắc kế toán, phương pháp kế toán một số giao dịch chủ yếu liên quan đến kế toán các khoản nợ phải thu, từ đó đưa ra một số kiến nghị đáng lưu ý về nghiệp vụ này tại các doanh nghiệp siêu nhỏ.
7 Nâng cao chất lượng đào tạo kế toán, kiểm toán đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới / Nguyễn Thị Ngọc Bích, Giang Thị Trang // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 98-100 .- 657
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng cùng với ảnh hưởng do Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại, ngành kế toán, kiểm toán Việt Nam cần phải có những đổi mới nhất định để đáp ứng với yêu cầu mới đặt ra. Trong đó, chất lượng đào tạo kế toán, kiểm toán cần phải được chú trọng hàng đầu. Chỉ khi chất lượng đào tạo được nâng cao thì các kế toán, kiểm toán viên mới có thể thích ứng tốt nhất với những yêu cầu của bối cảnh mới.
8 Hiệu quả công tác đánh giá tính trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập / Nguyễn Thị Thu Thư, Nguyễn Thu Hằng // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 101-103 .- 657
Dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) được xem là dịch vụ mang lại doanh thu chủ yếu cho các công ty kiểm toán (CTKT) độc lập hiện nay. Tuy nhiên, xu thế hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán đòi hỏi các CTKT cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc kiểm toán. Và để nâng cao chất lượng kiểm toán thì rất cần thiết phải có những giải pháp để hoàn thiện hơn nữa công tác đánh giá tính trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán BCTC.
9 Mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro trong doanh nghiệp / Bùi Thị Tiến // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 104-106 .- 657
Các tổ chức, các doanh nghiệp hiện nay đang phải đối diện với áp lực về việc phải nhận diện được hết các rủi ro mà họ phải đối mặt như rủi ro về xã hội, về đạo đức, về môi trường rủi ro về mặt tài chính, rủi ro hoạt động, cũng như quản trị chúng ở mức độ có thể chấp nhận được. Do đó, vai trò của quản trị rủi ro trong doanh nghiệp ngày càng được thừa nhận rộng rãi. Trong khi đó, việc sử dụng các khung quản trị rủi ro doanh nghiệp đã được mở rộng khi các tổ chức nhận ra được lợi ích của họ khi tiếp cận với việc quản trị rủi ro doanh nghiệp. Hệ thống kiểm soát nội bộ, cho dù dưới vai trò nào thì đều góp phần vào việc quản trị rủi ro doanh nghiệp theo nhiều cách khác nhau.
10 Vấn đề đặt ra đối với ngành Kiểm toán trong bối cảnh đại dịch Covid–19 / Nguyễn Thị Thanh Thắm, Trần Thị Phương Nhung, Ninh Thị Thảo // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 107-109 .- 657
Năm 2020, đại dịch Covid-19 lan rộng ra phạm vi toàn cầu. Dịch bệnh đã và đang tác động lớn đến mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội của các quốc gia. Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới đã, đang kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, dịch bệnh tác động đến sự phát triển kinh tế-xã hội toàn cầu nên ít nhiều cũng tạo ra những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế Việt Nam. Tình hình đó đặt ra cho nền kinh tế nói chung và ngành Kiểm toán nói riêng nhiều vấn đề mới cần phải được xem xét và giải quyết.