CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Khai thác di sản địa chất hệ thống hang động núi lửa KRông Nô, tỉnh Đăk Nông phục vụ phát triển du lịch / Phạm Thị Trầm // Nghiên cứu địa lý nhân văn .- 2021 .- Số 1 (32) .- Tr. 40-47 .- 910
Trên cơ sở phân tích các giá trị di sản địa chất và một số điều kiện thúc đẩy phát triển du lịch trên cơ sở khai thác hang động núi lửa, bài báo đã gợi ý một số giải pháp: quy hoạch hệ thống hang động núi lửa và tài nguyên du lịch khác, đa dạng hóa, phát triển các loại hình du lịch theo đặc điểm tính chất của từng loại hang; hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác tài nguyên di sản địa chất cho phát triển du lịch; đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch.
2 Thực trạng phát triển du lịch có trách nhiệm ở huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang / Nguyễn Trọng Nhân, Huỳnh Văn Đà, Phan Việt Đua // Nghiên cứu địa lý nhân văn .- 2021 .- Số 1 (32) .- Tr. 69-78 .- 910
Kiên Hải là đơn vị hành chính cấp huyện ở tỉnh Kiên Giang, nằm trên vùng biển Tây Nam của Việt Nam, với diện tích 24,61 km2 và dân số 17.591 người (2019). Địa hình đa dạng và tương phản cao, phong cảnh hoang sơ, nhiều bãi biển thoải và được bao phủ bởi cát trắng, nước biển trong xanh, khí hậu trong lành và ấm áp quanh năm, văn hóa bản địa đa dạng, người dân thân thiện và mến khách là những nguồn lực quan trọng để địa phương phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch biển đảo theo hướng có trách nhiệm. Để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch có trách nhiệm ở huyện Kiên Hải, các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, quan sát thực địa và tham khảo tài liệu thứ cấp đã được sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, còn một số tồn tại trong phát triển du lịch có trách nhiệm ở địa bàn nghiên cứu trên phương diện phát triển sản phẩm du lịch, quản lý hành vi của du khách, hoạt động cung cấp thông tin cho du khách, việc đảm bảo quyền lợi và phát triển nghề nghiệp cho nhân viên lao động, quản lý giá cả dịch vụ, thu gom và xử lý chất thải, an toàn trong tham gia giao thông, sử dụng nước ngọt trong du lịch.
3 Giải pháp nâng cao chất lượng giám sát của Quốc hội về quản lý tài sản công và Ngân sách Nhà nước / Đặng Văn Thanh // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 4 .- Tr. 11-13 .- 332.1
Ngày 23/05/2021 toàn dân Việt Nam sẽ đi bầu người đại diện của mình tham gia Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Phát huy những kết quả đạt được của 14 khóa Quốc hội, Quốc hội Khóa XV cần tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, trong đó có đổi mới hoạt động giám sát nói chung và trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản và ngân sách Nhà nước nói riêng. Đây là một chức năng của Quốc hội và là một chủ trương, nhiệm vụ đã và đang được Đảng, Nhà nước, Quốc hội quan tâm và thực hiện.
4 Đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch các tỉnh Tây Bắc / Nguyễn Xuân Hòa // Nghiên cứu địa lý nhân văn .- 2021 .- Số 1 (32) .- Tr. 79-90 .- 910
Các tỉnh Tây Bắc rất giàu tiềm năng về tài nguyên du lịch cả về du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn. Tuy nhiên, các dạng tài nguyên này vẫn nằm ở dạng tiềm năng do điều kiện giao thông gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật của khu vực như hạ tầng ngành cấp điện, nước, vệ sinh môi trường, cơ sở lưu trú... còn nhiều yếu kém. Trong đó, hệ thống giao thông được ví như huyết mạch kết nối các điểm du lịch của vùng hiện tại vẫn còn nhiều khó khăn. Vì vậy, để có thể khai thác phát triển ngành du lịch các tỉnh Tây Bắc nhằm xoá đói, giảm nghèo, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá, lịch sử của vùng trước hết cần phải có sự đầu tư lớn về hệ thống giao thông đường bộ, đường không, đường thuỷ để du khách có thể dễ dàng tiếp cận được các khu, điểm du lịch của địa phương.
5 Chính sách, pháp luật về kinh tế tập thể của các nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam / Nguyễn Minh Sơn, Trần Vũ Thanh // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 4 .- Tr. 13-16 .- 330
Kinh tế tập thể (KTTT) hình thành và phát triển ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới. Qua phân tích tình hình ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về KTTT, bài viết chỉ ra tình hình thực tế và kết quả phát triển KTTT của một số nước trên thế giới. Qua đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để vận dụng vào quá trình phát triển KTTT đạt hiệu quả hơn trong thời gian tới.
6 Tài sản công và quản lý tài sản công trong Nhà nước pháp quyền / Nguyễn Thị Nhung // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 4 .- Tr. 17-18,32 .- 657
Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tài sản công thuộc sở hữu toàn dân. Tài sản của toàn dân phải có chủ sở hữu đích thực đề thực hiện quyền sở hữu trong việc phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng của đất nước. Để sử dụng tài sản của nhân dân có hiệu quả, cần phải trao quyền cho Nhà nước. Khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan Đổi mới phương thức quản lý, sử dụng tài sản công theo hướng nắm chắc, phản ánh đầy đủ tài sản công cả về giá trị và hiện vật, coi tài sản công là nguồn lực quan trọng, tạo cơ chế khai thác tài sản công hợp lý, tạo ra nguồn lực tài chính từ tài sản đóng góp có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội.
7 Thiết lập vùng EBSA – Cách tiếp cận mới trong bảo tồn biển Việt Nam / Dư Văn Toán, Hoàng Đình Chiều // Nghiên cứu địa lý nhân văn .- 2021 .- Số 2 (33) .- Tr. 3-10 .- 910
Hiện nay, nhiều quốc gia thành công trong việc bảo vệ hệ sinh thái biển đặc thù dựa vào các vùng đặc thù sinh học hoặc sinh thái (EBSA: Ecologically or Biologically Significant Marine Area). Các tiêu chí đánh giá vùng EBSA: tính đặc hữu, duy nhất; là nơi cư trú của các loài quý hiếm, nguy cấp; tính đa dạng sinh học cao; tính nguyên sơ ít bị tác động của con người... Việt Nam hiện chưa có những nghiên cứu về vùng EBSA. Bảo tồn biển và hệ sinh thái đặc thù của Việt Nam dựa vào khoanh vùng địa lý để thành lập các khu bảo tồn biển. Nội dung bài báo này giới thiệu về lịch sử hình thành, quy trình xét duyệt, các tiêu chí để xác định vùng EBSA; so sánh các loại hình khu bảo vệ, bảo tồn biển và thực trạng bảo tồn biển tại Việt Nam, từ đó đề xuất cách tiếp cận và áp dụng vùng EBSA phù hợp với một số hệ sinh thái biển của Việt Nam.
8 Kiểm soát chặt chẽ những vấn đề môi trường của các dự án lấn biển / Nguyễn Song Tùng // Nghiên cứu địa lý nhân văn .- 2021 .- Số 2 (33) .- Tr. 11-19 .- 910
Hoạt động lấn biển đã và đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, được xem là giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh dân số gia tăng, các nguồn lực cho phát triển giảm, đặc biệt là quỹ đất ngày càng hạn hẹp. Tại Việt Nam, nhiều dự án lấn biển được thực hiện ở các tỉnh, thành phố ven biển. Lấn biển đã trở thành một hướng mở tích cực, hướng phát triển cần thiết cho tương lai. Tuy nhiên, hoạt động lấn biển cũng có nguy cơ tạo ra nhiều hệ lụy như: làm thay đổi điều kiện tự nhiên, địa hình, cảnh quan; thay đổi chế độ thủy động lực, thay đổi dòng chảy ven bờ; tác động đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học và tài nguyên biển cũng như các vấn đề xã hội khác. Vì vậy, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ những vấn đề môi trường là yêu cầu bắt buộc đối với các dự án lấn biển nhằm hướng tới sự phát triển bền vững.
9 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới áp dụng kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp / Phạm Đức Hiếu, Chu Thị Huyền // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 4 .- Tr. 19-23 .- 657
Kế toán trách nhiệm (KTTN) là một công cụ quản lý hiện đại giúp doanh nghiệp (DN) thực hiện việc kiểm soát trên cả góc độ tài chính và chiến lược, tăng cường sự phát triển bền vững cho các DN trong giai đoạn hội nhập. Tuy nhiên, việc áp dụng KTTN trong DN phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài DN. Qua tổng hợp các nghiên cứu và các lý thuyết liên quan, các tác giả đã đề xuất mô hình cho các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng tới áp dụng KTTN trong các DN ở Việt Nam.
10 Nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp thông qua vốn trí tuệ: Bằng chứng tại các công ty niêm yết Việt Nam / Trần Thị cẩm Thanh, Lê Thị Mỹ Tú // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 4 .- Tr. 24-28 .- 332.1
Mục tiêu của nghiên cứu này là điều tra tác động của vốn trí tuệ (IC) đến hiệu quả tài chính tại các công ty niêm yết Việt Nam. Hiệu suất tài chính được đo qua chỉ tiêu suất sinh lợi tài sản ROA. Hiệu quả vốn trí tuệ dựa trên mô hình Giá trị gia tăng của vốn trí tuệ điều chỉnh (VAIC). Mô hình hồi quy tĩnh OLS và hiệu ứng cố định FE được sử dụng trong phân tích. Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực giữa ROA và vốn trí tuệ của công ty có thể kéo dài sau đến 3 năm tài chính. Đặc biệt nghiên cứu này thực chứng vai trò của từng thành phần trong vốn trí tuệ (bao gồm vốn nhân lực, vốn cấu trúc và vốn quan hệ) có sức ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả tài chính. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng rằng, đầu tư cao hơn trong IC có thể cải thiện việc tạo giá trị trong các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam.