CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ tài chính số tại Việt Nam / Nguyễn Văn Tâm // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.58 - 61 .- 332
Tác động của đại dịch Covid-19 đặt ra yêu cầu cần tăng cường, thúc đẩy sử dụng các dịch vụ tài chính số, đảm bảo sự hoạt động liên tục của hệ thống tài chính, đồng thời góp phần đảm bảo sự an toàn cần thiết cho người dân. Bài viết nghiên cứu các sản phẩm dịch vụ tài chính số hiện nay; nhận diện những rủi ro, thách thức của loại hình dịch vụ tài chính số này và nêu ra giải pháp, thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính số trong trạng thái bình thường mới.
2 Phát huy vai trò của các tổ chức cung ứng dịch vụ xã hội không vì lợi nhuận / Lê Thu Hằng, Nguyễn Danh Nam // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.88 - 92 .- 332
Dịch vụ xã hội là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao giá trị đạo lý, nhân văn, vì con người, là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội. Khi nói đến hoạt động cung ứng dịch vụ xã hội, thường nhắc đến vai trò của nhà nước mà đại diện cung cấp là các chủ thể thuộc khu vực công. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến vấn đề các tổ chức không vì lợi nhuận bởi chúng có vai trò quan trọng trong việc cung ứng các dịch vụ xã hội.
3 Vai trò của công nghệ trong truyền thông chính sách ở Việt Nam hiện nay / Đoàn Thị Trang // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.68 - 70 .- 005
Ngày nay, công nghệ trở thành xu hướng phát triển tất yếu không ngừng, làm thay đổi mọi lĩnh vực cuộc sống, xã hội trong đó có truyền thông chính sách. Truyền thông chính sách là một phần trong hoạt động của Chính phủ nhằm đưa thông tin về chính sách đến người dân, thuyết phục họ thay đổi nhận thức và hành vi đúng pháp luật, đồng thời, cũng là kênh để Chính phủ lấy ý kiến nhân dân khi xây dựng chính sách mới, điều chỉnh chính sách hiện đại, tạo ra sự đồng thuận xã hội. Bài viết đề cập vai trò của công nghệ đối với hoạt động truyền thông chính sách và đưa một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của công nghệ trong truyền thông chính sách ở Việt Nam hiện nay.
4 Giải pháp để doanh nghiệp nhỏ và vừa trụ vững trong đại dịch covid-19 / Trương Thu Phương, Đỗ Văn Chúc // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.72 - 74 .- 658
Theo thống kê, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, đóng góp tới 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và thu hút hơn 5 triệu lao động. Mặc dù, có vai trò quan trọng, song khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khá nhiều khó khăn, thách thức, nhất khi đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng.Bài viết nghiên cứu thực trạng phát triển cũng như nhận diện những tồn tại, khó khăn của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, bài viết đề xuất giải pháp giúp khu vực doanh nghiệp này trụ vững trong đại dịch covid-19
5 Định hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam / Nguyễn Thị Hương // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.78 - 81 .- 332.04
Hệ thống kiểm soát nội bộ ngày càng đóng vai trò quan trọng, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, các ngân hàng thương mại đều khó khăn trong việc thiết lập và vận hành hệ thống này, mặc dù đã có quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Nhà nước tại Thông tư 13/2018/TT-NHNN. Bài viết đề xuất giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ theo các thông lệ quốc tế được thừa nhận.
6 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp du lịch / Trần Thị Bích Duyên // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.82 - 85 .- 657
Bài viết xây dựng một mô hình nghiên cứu tổng quát về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội tại các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch. Trên cơ sở kế thừa, phát triển các nghiên cứu trước đây, bài viết phân tích, tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội tại các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch. Bên cạnh nền tảng lý thuyết về kiểm soát nội bộ, tác giả kết hợp với các nhân tố tác động bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để đưa vào mô hình nghiên cứu.
7 Ảnh hưởng của một số yếu tố lên quá trình sinh trưởng và phát triển lan Thạch Hộc Tía (Dendrobium officinale Kimura et Migo) trong nuôi cấy in vitro và ex vitro / Vũ Quốc Luận, Hoàng Thanh Tùng, Vũ Thị Hiền, Hoàng Đắc Khải, Đỗ Mạnh Cường, Trịnh Thị Hương, Bùi Văn Thế Vinh, Vũ Thị Tư, Dương Tấn Nhựt // Công nghệ Sinh học .- 2021 .- Số 2(Tập 19) .- Tr. 321-335 .- 570
Phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố lên quá trình sinh trưởng và phát triển lan Thạch Hộc Tía (Dendrobium officinale Kimura et Migo) trong nuôi cấy in vitro và ex vitro. Lan Thạch Hộc Tía là một loài phong lan cho hoa đẹp và có nhiều dược chất quan trọng trong việc chống ung thư, chống lão hóa, tăng cường miễn dịch và giãn mạch máu; do đó, chúng được sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền ở nhiều nước Châu Á. Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của một số yếu tố lên chất lượng cây giống trong nuôi cấy in vitro cũng như sinh trưởng và phát triển tiếp theo ở giai đoạn vườn ươm.
8 Nano bạc nâng cao hiệu quả khử trùng mẫu cấy và phát sinh phôi soma cây Thu hải đường (Begonia tuberous) thông qua nuôi cấy lớp mỏng tế bào / Hoàng Thanh Tùng, Hoàng Thị Vân, Huỳnh Gia Bảo, Lê Thế Biên, Hoàng Khắc Khải, Vũ Quốc Luận, Đỗ Mạnh Cường, Trương Hoài Phong, Dương Tấn Nhựt // .- 2021 .- Số 2(Tập 19) .- Tr. 337-347 .- 570
Phân tích hiệu quả về nano bạc nâng cao hiệu quả khử trùng mẫu cấy và phát sinh phôi soma cây Thu hải đường (Begonia tuberous) thông qua nuôi cấy lớp mỏng tế bào. Thiết lập mẫu cấy in vitro là một trong những giai đoạn quan trọng nhất trong vi nhân giống. Hiệu quả khử trùng thì phụ thuộc vào loại chất khử trùng bề mặt, nồng độ và thời gian xử lý. Trong nghiên cứu bước đầu này, nano bạc (AgNPs) đã được sư dụng như một chất khử trùng mẫu cấy cuốn lá, phát hoa và đoạn thân của cây Thu hải đường. Bên cạnh đó, kỹ thuật nuôi cấy lớp mỏng tế bào (TCL) đã được ứng dụng cho mục đích phát sinh phôi soma.
9 Li-xăng nhãn hiệu và rủi ro nhượng quyền thương mại “ngoài ý muốn” / Nguyễn Huy Hoàng, Trần Văn Tiến // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 10(751) .- Tr. 13-15 .- 650
Phân tích sự chồng lấn giữa li-xăng nhãn hiệu và NQTM cũng như những hậu quả có thể xảy ra cho các bên do NQTM “ngoài ý muốn”. Li-xăng nhãn hiệu (hay chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu) và nhượng quyền thương mại (NQTM) là hai hoạt động có mối liên hệ khá gần gũi và có nhiều điểm tương đồng. Việc phân biệt giữa li-xăng nhãn hiệu và NQTM không phải lúc nào cũng dễ dàng, nên trên thực tế tại Việt Nam cũng như thế giới, một số doanh nghiệp khi tiến hành li-xăng nhãn hiệu đã gặp phải tình huống NQTM “ngoài ý muốn” khi vô tình các điều khoản hoặc thực tế thực hiện hợp đồng li-xăng nhãn hiệu giữa các bên lại chưa đựng các yếu tố NQTM. Điều này có thể dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho các bên nếu chưa đăng ký NQTM và/hoặc chưa đáp ứng các quy định của pháp luật NQTM.
10 Tác động của đa dạng hóa đến rủi ro phi hệ thống của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thị Uyên Uyên, Lê Trương Niệm // Khoa học Thương mại .- 1 .- Số 151 .- Tr. 2-13 .- 658
Với mẫu dữ liệu gồm 240 công ty phi tài chính giai đoạn 2015-2019, bằng phương pháp hồi quy theo quy trình hai bước của Heckman (1979), bài nghiên cứu thực hiện để phân tích sự tác động của đa dạng hỏa đến rủi ro phi hệ thống của các công ty niêm yết ở Việt Nam. Nhóm tác giả phát hiện rằng cả đa dạng hóa khu vực địa lý và đa dạng hóa ngành kinh doanh đều đem lại rủi ro phi hệ thống cho công ty nhưng đa dạng hóa khu vực địa lý đem lại rủi ro phi hệ thống thấp hơn đa dạng hóa ngành kinh doanh. Thêm vào đó, bài nghiên cứu còn phát hiện ra rằng nếu như đa dạng hóa khu vực địa lý giảm thiểu rủi ro phi hệ thống thì đa dạng hóa ngành kinh doanh lại cổ tác động làm gia tăng rủi ro phi hệ thống. Kết quả nghiên cứu khuyến nghị rằng các công ty niêm yết nên thực hiện chiến lược tăng trưởng thông qua đa dạng hóa khu vực địa lý, còn khi đa dạng hóa ngành kinh doanh công ty cần phải phân tích, tính toán cẩn trọng khi quyết định.