Sự phát trển của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung luôn hướng tới phát trển bền vững. Vì vậy, nghiên cứu mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cần thiết. Trên cơ sở kế thừa quan điểm của các học giả về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và phát trển bền vững, bài viết đưa ra quan điểm và rút ra mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và phát trển bền vững của doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Tình trạng xâm phạm quyền tác giả vẫn còn tồn tại, chủ yếu từ phía người học không những làm hạn chế khả năng sáng tạo mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm năng thương mại hóa các tác phẩm. bài viết phân tích các hành vi xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động học tập và nghiên cứu của người học tại Trường Đại học Luật Hà Nội, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng xâm phạm và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiêu quả bảo vệ quyền tác giả tại các cơ sở giáo dục đại học nói chung cũng như Đại học Luật Hà Nội nói riêng.
Đánh giá khả năng giảm đau sau mổ của phương pháp gây tê mặt phẳng cơ dựng sống (Erector spinae plane block) cho phẫu thuật tim hở. Áp dụng gây tê mặt phẳng cơ dựng sống giúp giảm đau và không cần sử dụng opioid sau phẫu thuật tim hở. Phẫu thuật tim hở có thể gây đau nghiêm trọng sau mổ và có nguy cơ ảnh hưởng nhiều đến chức năng hô hấp và có thể gây nhiều biến chứng hô hấp sau mổ, tăng chi phí điều trị, tăng nguy cơ tử vong. ESPB (Erector spinae plane block) không làm tụt huyết áp và các chỉ số khí máu động mạch trong giới hạn bình thường ở các thời điểm nghiên cứu, không có biến chứng sau phẫu thuật. Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống là phương pháp an toàn hiệu quả trong giảm đau sau phẫu thuật tim hở.
Mục tiêu nghiên cứu nhằm mô tả tổn thương thận cấp sau phẫu thuật tim sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể. Tổn thương thận cấp tính sau phẫu thuật tim có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể xảy ra do sự suy giảm chức năng nhanh chóng của thận, được biểu hiện bằng sự suy giảm đáng kể mức lọc cầu thận và tăng nồng độ creatinin máu, là một biến chứng nặng xảy ra sau phẫu thuật tim. Sinh lý bệnh của tổn thương thận cấp sau phẫu thuật tim thì rất phức tạp và do nhiều yếu tố như: vi tắt mạch, hoạt hóa các yếu tố thần kinh thể dịch, độc tố nội sinh ngoại sinh, các yếu tố chuyển hóa, các yếu tố viêm, tổn thương liên quan tới thiếu máu. Nhóm tổn thương thận cấp có độ tuổi trung bình, ure máu và creatinin máu trước phẫu thuật cao hơn, thời gian chạy tuần hoàn cơ thể kéo dài hơn và số lượng nước tiểu ít hơn trong phẫu thuật. Số lượng các chế phẩm máu và tỉ lệ sử dụng các thuốc vận mạch nhiều hơn và thời gian nằm hồi sức kéo dài hơn ở nhóm tổn thương thận cấp sau phẫu thuật.
Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả kết quả điều trị rối loạn đông máu rải rác trong lòng mạch. Đông máu rải rác trong lòng mạch là một hội chứng rối loạn đông máu khá phổ biến và rất nghiêm trọng trong lâm sàng, đặc trưng bởi hiện tượng hoạt hóa quá mức hệ thống đông cầm máu, làm tăng tiêu thụ tiểu cầu và các yếu tố đông cầm máu, dấn đến hình thành và lắng đọng fibrin ở những mạch máu nhỏ và vừa. Cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời rối loạn đông máu rải rác trong lòng mạch, phối hợp chặt chẽ điều trị bệnh nền, truyền chế phẩm máu và sử dụng thuốc chống đông hợp lí để nâng cao hiệu quả điều trị.
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả nút tắc ống ngực điều trị biến chứng rò dưỡng chấp sau mổ ung thư tuyến giáp điều trị bảo tồn thất bại. Về điều trị, với những bệnh nhân rò dưỡng chấp sau mổ ung thư tuyến giáp ưu tiên là bảo tồn chế độ ăn nuôi dưỡng tĩnh mạch, băng ép, hút áp lực âm,… Phương pháp điều trị nút tắc ống ngực được mô tả gần đây điều trị hiệu quả cho các trường hợp tràn dịch dưỡng chấp ổ bụng và lồng ngực. Về lâm sàng, 100% bệnh nhân hết rò dưỡng chấp sau can thiệp. Không có biến chứng liên quan đến can thiệp cũng như biến chứng ngắn hạn của việc nút tắc ống ngực. Nút tắc ống ngực là phương pháp điều trị hiệu quả những bệnh nhân rò dưỡng chấp ngoài da sau mổ ung thư tuyến giáp.
Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít điều trị gãy kín mâm chày tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nguyên nhân gãy mâm chày chủ yếu là do lực tác động mạnh và đột ngột vào vùng mâm chày, hay gặp nhất là do tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt hoặc chơi thể thao. Các triệu chứng giúp cho chẩn đoán gấy mâm chày chủ yếu dựa vào chẩn đoán hình ảnh. Tùy vào từng bệnh nhân, từng tổn thương tại mâm chày mà có phương pháp điều trị khác nhau: với những gẫy mâm chày không di lệch hoặc ít di lệch thì điều trị bảo tồn nắn chỉnh ổ gãy và bó bột được lựa chọn, với những gãy mâm chày có di lệch nhiều, mất vững hoặc có biến chứng, có tổn thương phối hợp thì có chỉ định phẫu thuật kết hợp xương. Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít là phương pháp điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân gãy kín mâm chày.
Mô tả một trường hợp u xơ đơn độc/u tế bào quanh mạch ở hệ thần kinh trung ương. U xơ đơn độc và u tế bào quanh mạch được coi là các u trung mô riêng biệt, có thể gặp ở cả trong và ngoài hệ thần kinh trung ương. Sự hiếm gặp của u xơ đơn độc/u tế bào quanh mạch của hệ thần kinh trung ương là nguyên nhân chính dẫn đến việc vẫn chưa có phương pháp điều trị tối ưu cho loại u này hiện nay. Việc xác định hình thái mô bệnh học u xơ đơn độc hay u xơ đơn độc và độ mô học là rất quan trọng vì điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới điều trị và tiên lượng bệnh. U xơ đơn độc/u tế bào quanh mạch của hệ thần kinh trung ương là u trung mô hiếm gặp, thường dễ bị nhầm lẫn với u màng não, tuy nhiên có thể phân biệt được bằng nhuộm hóa mô miễn dịch hoặc xét nghiệm phân tử tìm sự hòa hợp gene NAB2-STAT6. Việc xác định đúng độ mô học u theo hướng dẫn phân loại của Tổ chức Y tế thế giới là rất quan trọng vì điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc điều trị và tiên lượng bệnh.
Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả một trường hợp ung thư biểu mô tế bào hình thoi của tuyến vú. Ung thư biểu mô tế bào hình thoi là một biến thể hiếm gặp của ung thư vú, được xếp loại trong nhóm ung thư biểu mô thể dị sản. U được đặc trưng bởi các thành phần giống trung mô, có thể có cấu trúc biểu mô hoặc không, dễ gây nhầm lẫn với một sarcoma. U có tiên lượng xấu với tỷ lệ tái phát và di căn cao. Thiết kế nghiên cứu mô tả ca bệnh: bệnh nhân nữ 61 tuổi đi khám vì tự sờ thấy khối u ở vú. Bênh nhân được chẩn đoán là ung thư biểu mô tế bào hình thoi. Chẩn đoán được đưa ra dựa trên sự phân tích kết hợp giữa hình ảnh mô bệnh học và hóa mô miễn dịch. Cần nghiên cứu nhiều trường hợp khác để đưa ra được sự đồng thuận trong chẩn đoán và điều trị. Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp cho thực tiễn lâm sàng ca bệnh ung thư biểu mô tế bào hình thoi của tuyến vú.
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển kinh tế tư nhân, bài viết đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tiếp theo.