CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Nghiên cứu tổng quan về nano bạc : từ tổng hợp đến ứng dụng / Võ Thị Quý Vĩnh, Lê Quốc Chơn // .- 2019 .- Số 01(32) .- Tr. 30-39 .- 540
Tổng quan về các phương pháp tổng hợp hạt nano Ag và mối tương quan đến tính chất cùng các hướng ứng dụng cần thiết. Trên cơ sở đó, đề cập một số xu hướng nghiên cứu và phát triển trong tương lai.
2 Chế tạo giấy kháng khuẩn từ nano bạc và giấy Dó truyền thống của Việt Nam / Võ Thị Quý Vĩnh, Lê Quốc Chơn // .- 2019 .- Số 01(32) .- Tr. 40-49 .- 540
Hiện tượng nhiễm khuẩn không khí trong nhà đang diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt là trong bệnh viện, trường học và thư viện. Tìm kiếm giải pháp để tiêu diệt và hạn chế sự phát triển của vi sinh vật đang là vấn đề cấp thiết. Trong nghiên cứu này chúng tôi chế tạo thành công giấy kháng khuẩn dựa trên giấy Dó truyền thống của Việt Nam tẩm nano Bạc(Ag). Kết quả cho thấy giấy có khả năng kháng lại sự phát triển của vi khuẩn Bacillus subtilis nhờ vào nano Ag bám dính tốt và khá đồng đều. Nghiên cứu này mở ra tiềm năng ứng dụng mới cho giấy Dó như giấy trang trí kháng khuẩn, hay bao bì thực phẩm và lọc nước.
3 Thể lịch sự và mĩ từ (bikago) trong kính ngữ tiếng Nhật (liên hệ với tiếng Việt) / Hoàng Anh Thi, Nguyễn Thị Hằng Nga // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 3-10 .- 400
Bài viết bàn về thể lịch sự (Teineigo) và Bikago trong hệ thống kính ngữ tiếng Nhật. Đây là phạm vi kính ngữ còn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Để làm rõ chức năng của các loại kính ngữ này, đầu tiên, bài viết khái quát hai khuynh hướng quan điểm chủ đạo về cách phân loại kính ngữ nói chung cũng như thể lịch sự và Bikago nói riêng, đồng thời đặt chúng trong tương quan hệ thống các loại kính ngữ để nhấn mạnh sự khác biệt. Tiếp đó, bài viết bàn luận về những điểm còn chưa rõ ràng về ranh giới giữa các loại kính ngữ, từ đó nhận diện bản chất ngôn ngữ - văn hóa của lịch sự ngữ và Bikago, nêu một số lưu ý về qui tắc ngôn ngữ - văn hóa khi sử dụng lịch sự ngữ và Bikago trong giao tiếp tiếng Nhật.
4 Khảo sát ẩn dụ cấu trúc “doanh nghiệp là chiến binh” trong chuyên mục kinh doanh của Thời báo Tài chính Việt Nam (Online) / Phạm Thị Xuân Hà // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 11-18 .- 400
Từ lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, bài viết nghiên cứu ẩn dụ ý niệm “doanh nghiệp là chiến binh” trong các bài báo ở chuyên mục Kinh doanh trên Thời báo Tài chính Việt Nam. Căn cứ vào những tương liên trong kinh nghiệm và những miền tri thức được chiếu xạ từ miền nguồn sang miền đích, bài viết làm rõ cơ chế sao phỏng giữa hai miền không trong tư duy ngôn ngữ của các tác giả. Ẩn dụ ý niệm doanh nghiệp là chiến binh là ẩn dụ cấu trúc sử dụng miền nguồn với cấu trúc cơ bản của nó là một lược đồ chiếu xạ bộ phận với đặc điểm của đối tượng tham gia chiến đấu trên chiến trường (chiến binh) và đối tượng tham gia trên thương trường (doanh nghiệp). Thông qua việc phân tích tư liệu, kết quả của nghiên cứu này chỉ kiểu tư duy đặc thù trong cấu trúc ý niệm mang đặc trưng tư duy về doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường đồng thời khẳng định tính phổ quát của một số miền nguồn thông dụng được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau.
5 Các quy tắc ràng buộc trong câu tiếng Việt: Phân tích liên lí thuyết về cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng / Lý Ngọc Toàn // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 34-42 .- 400
Nghiên cứu này phân tích ba loại ràng buộc trong cấu trúc câu tiếng Việt, bao gồm ràng buộc cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, trên cơ sở vận dụng tổng hợp giữa ngữ pháp kết cấu, ngữ pháp tri nhận và lý thuyết ràng buộc. Dựa trên khung lý thuyết của ngữ pháp kết cấu và ngữ pháp tri nhận, nghiên cứu tập trung phân tích 05 hiện tượng trong cấu trúc cú pháp tiếng Việt, gồm: cấu trúc chuyển tác, cấu trúc tham tố, mệnh đề phụ thuộc, chuỗi động từ và bổ ngữ bất định. Các ràng buộc cú pháp trong tiếng Việt thể hiện qua những hiện tượng như chuỗi động từ, mệnh đề phụ thuộc và bổ ngữ bất định; ràng buộc ngữ nghĩa phản ánh sự kết hợp logic giữa các thành phần như chủ ngữ – vị ngữ, động từ – bổ ngữ và động từ – trạng từ; ràng buộc ngữ dụng liên quan đến yếu tố ngữ cảnh giao tiếp, hiện tượng lược bỏ (khoảng trống cú pháp) và cách tổ chức thông tin trong diễn ngôn. Kết quả phân tích cho thấy, mặc dù tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, không có hệ thống hình thái đánh dấu vai trò ngữ pháp, nhưng vẫn tồn tại các ràng buộc về cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng điều phối cách tổ chức và vận hành của các thành phần trong câu. Nghiên cứu góp phần hoàn thiện mô hình phân tích cú pháp tiếng Việt theo hướng tích hợp giữa hình thức cú pháp, điều kiện ngữ nghĩa và yêu cầu ngữ dụng, đồng thời mở rộng khả năng ứng dụng vào giảng dạy tiếng Việt như ngoại ngữ và xử lý ngôn ngữ tự nhiên.
6 Khó khăn về từ vựng trong biên dịch pháp lí Anh - Việt: Trường hợp của sinh viên chuyên ngữ / Nguyễn Nhân Ái // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 51-58 .- 400
Bài viết phân tích những khó khăn về từ vựng mà sinh viên chuyên ngữ gặp khi biên dịch pháp lý từ Anh sang Việt, đồng thời làm rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp toàn diện. Thông qua nghiên cứu hỗn hợp với 60 sinh viên và 2 giảng viên, kết quả cho thấy thuật ngữ chuyên ngành, bán chuyên ngành, từ mượn, từ đồng nghĩa, cụm từ lặp, cùng từ cổ là trở ngại thường gặp. Các yếu tố khách quan như khác biệt hệ thống pháp luật, thiếu tài liệu kết hợp nguyên nhân chủ quan làm phức tạp quá trình chuyển ngữ. Từ đó, nghiên cứu khuyến nghị rèn luyện kiến thức chuyên sâu, khai thác, tham khảo nguồn tài liệu có sẵn và áp dụng chiến lược dịch linh hoạt và nghiên cứu văn hoá – pháp luật nói chung nhằm góp phần nâng cao năng lực biên dịch cho sinh viên.
7 Sự chuyển hoá từ loại trong tiếng Việt / Đào Thanh Lan // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 3-8 .- 400
Sự chuyển hóa từ loại trong tiếng Việt tuy đã được ngữ pháp truyền thống đề cập nhưng với những nghiên cứu mới của bài viết này trong cái nhìn toàn diện của ngữ pháp hiện đại bao gồm các phương diện kết học, nghĩa học, dụng học thì có nhiều kết quả mới. Nó không chỉ là sự chuyển hóa từ tính (tính chất từ loại của từ) trong phạm vi thực từ hay từ thực từ sang hư từ do quá trình ngữ pháp hóa mà còn là sự chuyển hóa từ tính của hư từ do quá trình tình thái hóa hư từ.
8 Về các địa danh có yếu tố “quèn” ở Việt Nam / Trần Thị Hồng Hạnh // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 9-17 .- 400
Bài viết này tập trung vào các địa danh có yếu tố Quèn ở Việt Nam và tiếp cận chúng từ góc độ liên ngành. Các tài liệu ngôn ngữ học cũng như các tài liệu sử học, khảo cổ học, địa lý học đã thu thập được cho thấy việc giải thích ý nghĩa và xác định nguồn gốc của địa danh Quèn khá phức tạp. Bài viết cũng gợi ý về hướng tiếp cận địa danh này theo hướng tiếp xúc ngôn ngữ và đây sẽ là hướng nghiên cứu cần được tiếp tục để có thể đưa ra được giả thiết về nguồn gốc của địa danh này.
9 Về khía cạnh âm vị học của các ngôn ngữ Tai - Kadai / Nguyễn Ngọc Bình // .- 2023 .- Số 5 .- Tr. 30-38 .- 400
Ngữ hệ Tai-Kadai bao gồm gần 100 ngôn ngữ khác nhau, tập trung ở Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Bài viết đề cập đến các vấn đề mới nhất của ngữ hệ này, đặc biệt là các nghiên cứu về bình diện âm vị học của các ngôn ngữ Tai-Kadai trên thế giới. Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học đã khẳng định rằng ngữ hệ Tai-Kadai có ảnh hưởng lớn đến các ngữ hệ khác ở Đông Nam Á.
10 Vai trò của biểu thức danh hoá khi tái cấu trúc ngữ pháp câu tiếng Việt nhìn từ quan điểm tri nhận / Đỗ Hồng Dương // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 49-60 .- 400
Bài báo nghiên cứu vai trò của các biểu thức danh hóa khi tái cấu trúc cú pháp tiếng Việt theo hai lý thuyết chính: ngữ pháp tri nhận và thuyết phù hợp. Bài báo phân loại các kiểu cấu trúc thành hai nhóm dựa trên vai trò tri nhận của biểu thức danh hoá: nhóm nền tri nhận và nhóm tạo hình (tổ chức thông tin trọng tâm). Bài báo đi sâu vào phân tích nhóm nền tri nhận và giới thiệu sơ lược nhóm tạo hình, coi nhóm tạo hình là hướng nghiên cứu tiếp theo. Kết quả cho thấy các biểu thức danh hóa giúp điều chỉnh góc nhìn, tăng tính khách quan, và góp phần làm tối ưu hóa giao tiếp. Bài báo cũng đề cập đến một số lỗi xảy ra trong quá trình tái cấu trúc và coi là một hướng nghiên cứu cần thiết trong tương lai.