Tổn thương tân sinh ống nhú trong túi mật chiếm 0,4% đến 1,5% các trường hợp cắt túi mật. Phân loại u hệ tiêu hóa của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2019 đã có thay đổi trong nhóm u biểu mô lành và tổn thương tiền ung thư của túi mật, bao gồm: u tuyến môn vị, tân sinh trong biểu mô đường mật (BilIN) và tân sinh nhú trong túi mật (ICPN) do khả năng tiến triển thành ung thư khác nhau. Tổn thương loạn sản ở túi mật có thể tiến triển thành UTTM và tăng nguy cơ phát triển ung thư tại các phần khác của đường mật. Hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu áp dụng bảng phân loại Tổ chức Y tế Thế giới 2019 cho các tổn thương trong nhóm này của túi mật ở Việt Nam. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm mô bệnh học u biểu mô lành và tổn thương tiền ung túi mật theo Tổ chức Y tế Thế giới 2019. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo loạt ca bệnh trên 56 trường hợp u biểu mô lành và tổn thương tiền ung của túi mật được chẩn đoán tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2022. Kết quả: Trong 95 trường hợp trường hợp u biểu mô được chẩn đoán trên giải phẫu bệnh, chúng tôi ghi nhận có 56 trường hợp (58,95%) được xếp vào nhóm u biểu mô lành và tổn thương tiển ung. Tuổi trung bình: 49,63 ± 15,31 tuổi, lớn nhất là 87 tuổi, nhỏ nhất là 20 tuổi. Tỷ lệ nữ/nam = 1,4/1. Trong 56 ca bệnh có 4 ca u tuyến môn vị (7,14%), 11 ca BilIN (19,64%) (với 6 ca (54,55%) độ thấp, 5 ca (45,45%) độ cao), và 41 ca ICPN (73,21%) (với 32 ca (78,05%) độ thấp, 9 ca (21,95%) độ cao), cầu dạng gai hiện diện ở 11/56 trường hợp, 37,5% trường hợp có kèm viêm túi mật mạn. Trên đại thể, tổn thương dạng polyp chiếm 60,71%, thường gặp ở đáy túi mật. Kết luận: Nhóm u biểu mô lành và tổn thương tiền ung thư của túi mật là tổn thương ít gặp với đặc điểm mô bệnh học đa dạng, dễ chồng lấp, cần sự kết hợp chặt chẽ của lâm sàng, hình ảnh học trong xác định đặc tính của tổn thương.
Khảo sát mối liên quan giữa biểu hiện SATB2 với đặc điểm tuổi, giới, hình ảnh học Xquang và mô bệnh học của sarcôm tạo xương. đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu gồm 115 trường hợp được chẩn đoán sarcôm tạo xương theo bảng phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2020 về u phần mềm và xương tại Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2022. Kết quả: Dấu ấn SATB2 biểu hiện độc lập với hầu hết các đặc điểm về lâm sàng như tuổi, giới, hình ảnh học cũng như đặc điểm về mô bệnh học như phân nhóm mô học, chất dạng xương, thành phần sụn, phân bào hay hoại tử. Nghiên cứu ghi nhận các trường hợp nguyên bào sợi có biểu hiện SATB2 yếu hơn và đặc điểm chất dạng xương sẽ liên quan với mức độ biểu hiện SATB2 mạnh hơn. Kết luận: Dấu ấn SATB2 thể hiện vai trò trong biệt hoá chất dạng xương và kém biểu hiện hơn ở phân nhóm mô học nguyên bào sợi. Cần thêm các nghiên cứu đánh giá về mức độ biểu hiện SATB2 với ngưỡng cắt phù hợp.
Mô tả đặc điểm mô bệnh học của sarcoma màng hoạt dịch; xác định tỉ lệ bộc lộ của một số dấu ấn hóa mô miễn dịch và đối chiếu với típ mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện ở 50 trường hợp sarcoma màng hoạt dịch được chẩn đoán dựa trên đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch tại Trung tâm Giải phẫu bệnh và Sinh học phân tử Bệnh viện K từ tháng 1/2018 đến tháng 7/2024. Kết quả: Dưới típ mô bệnh học tế bào hình thoi phổ biến nhất (72%), tiếp theo là hai pha (20%) và kém biệt hóa (8%). TLE1 và SS18- SSX có tỷ lệ bộc lộ cao nhất, lần lượt là 98% và 92%. Kết luận: Sarcoma màng hoạt dịch có đặc điểm hình thái và dấu ấn hóa mô miễn dịch đa dạng. Kháng thể SS18-SSX có vai trò quan trọng trong chẩn đoán, đặc biệt trong điều kiện hạn chế về xét nghiệm sinh học phân tử.
Việc chẩn đoán bệnh lý viêm da cơ (DM) đòi hỏi phải phân tích toàn diện liên quan đến các biểu hiện lâm sàng và kết quả mô học. Nghiên cứu này nhằm mục đích cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh lâm sàng cũng như mô bệnh học và hóa mô miễn dịch của DM. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Loạt ca hồi cứu này bao gồm 14 bệnh nhân được chẩn đoán mắc DM tại Bộ môn Mô phôi – Giải phẫu bệnh, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2019 đến năm 2023. Các dấu hiệu lâm sàng, mô học và biểu hiện hóa mô miễn dịch đã được phát hiện. Kết quả: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 53±20,68 tuổi, tỷ lệ nữ/nam là 2,5:1. Với các dấu hiệu lâm sàng: Dấu Heliotrope (Heliotrope rash) 35,7 % trường hợp, dấu Gotton (Gotton d-rop) 50%, sẩn Gotton (Gotton pal) 21,4% trường hợp, dấu chữ “v” (V sign d-rop) gặp ở 42,9% trường hợp, dấu tăng sắc tố (Poikiloderma) gặp ở 35,7% trường hợp, dấu khăn choàng (Shawl sign) gặp ở 21,4% trường hợp. Sự thâm nhiễm tế bào viêm vào nội mạc gặp ở 57,1% trường hợp, teo quanh bó được tìm thấy ở 50% và hoại tử sợi được quan sát thấy ở 21,4% trường hợp. Không trường hợp nào có không bào có viền hiện diện. Hóa mô miễn dịch cho thấy tỷ lệ dương tính sau: HLA-ABC (57,1%), HLA-DR (21,4%), C5b-9 (35,7%) và Mx1/2/3 cao (42,9%). Không trường hợp nào có sự lắng đọng không bào p62. Sự kết hợp giữa phức hợp tấn công màng và phức hợp tương hợp mô học chính I đã giúp phát hiện DM trong 85% trường hợp. Kết luận: Việc chẩn đoán DM phải dựa trên các đặc điểm lâm sàng và đặc điểm mô bệnh học. Hóa mô miễn dịch đóng một vai trò quan trọng trong chẩn đoán và phân biệt bệnh lý này.
Ung thư vú bộ ba âm tính cho thấy kết cục xấu hơn so với các phân nhóm ung thư vú khác, chủ yếu là do lựa chọn điều trị còn hạn chế. Gần đây, các nhà nghiên cứu đã đề xuất sử dụng liệu pháp nhắm đích thụ thể androgen (AR) trên nhóm bệnh nhân này. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá biểu hiện AR của bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính và mối tương quan của nó với các đặc điểm lâm sàng bệnh học sử dụng các điểm cắt ≥ 1% và ≥ 10%. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 72 bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính đã được đánh giá biểu hiện AR (AR441) bằng phương pháp hóa mô miễn dịch và sắp xếp dãy mô với điểm cắt ≥ 1% và ≥ 10% bắt màu nhân tế bào bướu. Mối tương quan giữa biểu hiện AR với các đặc điểm lâm sàng bệnh học bao gồm tuổi, kích thước bướu, loại mô học, độ mô học, di căn hạch, xâm nhiễm mạch máu - mạch bạch huyết và tế bào lymphô thâm nhiễm bướu được phân tích. Kết quả: Biểu hiện AR dương tính được quan sát thấy ở 23 (31,9%) và 19 (26,4%) trong số 72 trường hợp với điểm cắt ≥ 1% và ≥ 10% tương ứng. Mối quan hệ giữa tình trạng AR và độ mô học tại điểm cắt ≥ 1% có ý nghĩa thống kê (p = 0,031), ung thư vú bộ ba âm tính dương tính với AR thường có độ mô học thấp hơn, độ 1-2; nhưng không có tương quan nào được quan sát thấy tại điểm cắt ≥ 10%. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa biểu hiện AR với các đặc điểm lâm sàng bệnh học khác ở cả hai điểm cắt này. Kết luận: Nghiên cứu thí điểm này chứng minh rằng một số lượng lớn bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính biểu hiện AR với cả điểm cắt ≥ 1% và ≥ 10%. Thụ thể AR có thể có vai trò tiềm năng như một chỉ dấu tiên lượng và điều trị trong ung thư vú bộ ba âm tính, với các nghiên cứu sâu hơn cần được tiến hành. Nghiên cứu này có thể có lợi cho các nghiên cứu trong tương lai về liệu pháp nhắm đích thụ thể AR trong ung thư vú bộ ba âm tính.
Xác định tỷ lệ bộc lộ CK, p63, Vimentin, EGFR trong ung thư biểu mô vú dị sản (2) Đối chiếu tỷ lệ bộc lộ EGFR với một số đặc điểm giải phẫu bệnh của ung thư biểu mô vú dị sản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 77 bệnh nhân Ung thư biểu mô vú dị sản, đã được phẫu thuật điều trị cắt vú tại bệnh viện K từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 8 năm 2023. Kết quả: Tỷ lệ dương tính CK trong ung thư biểu mô (UTBM) vú dị sản là 94,8% (73/77) trong đó UTBM tế bào hình thoi và UTBM dạng xơ dương tính với tỷ lệ là 100%. Tỷ lệ dương tính p63 là 70,1% (50/77), trong đó UTBM tế bào hình thoi dương tính với tỷ lệ 75% (3/4). Vimentin bộc lộ 59,7% (46/77) trong UTBM vú dị sản. Tỷ lệ EGFR dương tính trong UTBM vú dị sản là 70,1% (52/77), trong đó UTBM tế bào vảy có tỷ lệ dương tính là 82,4%; UTBM tế bào hình thoi có tỷ lệ dương tính EGFR thấp nhất là 50%. Tỷ lệ dương tính EGFR cao hơn ở nhóm có xâm nhập mạch, di căn hạch và xâm nhập quanh thần kinh; tuy nhiên giá trị này không có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Ung thư biểu mô dị sản là nhóm u có sự đa dạng về hình thái; kết hợp dấu ấn CK, p63 trong các trường hợp u tế bào hình thoi không có biệt hoá biểu mô mang lại nhiều giá trị chẩn đoán. EGFR dương tính khá cao trong UTBM vú dị sản hứa hẹn mở ra phương pháp điều trị đích và tiên lượng bệnh.
Xác định tỷ lệ các dưới típ mô bệnh học của ung thư biểu mô vú dị sản. Mô tả một số đặc điểm giải phẫu bệnh của ung thư biểu mô (UTBM) vú dị sản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 77 bệnh nhân ung thư biểu mô vú dị sản, đã được phẫu thuật điều trị cắt vú tại bệnh viện K từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 8 năm 2023. Kết quả: có 6 dưới típ mô bệnh học của UTBM vú dị sản theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 2019 được ghi nhận; UTBM tế bào vảy chiếm tỷ lệ cao nhất 44,2% (34/77), UTBM tuyến vảy độ thấp chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,3% (1/77). UTBM nội ống kết hợp gặp trong 23,4%. Độ mô học III chiếm đa số với 94,8%. Tỷ lệ xâm nhập mạch và xâm nhập quanh thần kinh chiếm lần lượt 16,7% và 11,7%; tỷ lệ di căn hạch là 23,4%. Phần lớn UTBM vú dị sản thuộc nhóm tiên lượng trung bình (NPI 3,4- 5) với 72,7%. Kết luận: UTBM vú dị sản đa dạng các thành phần, ghi nhận 6 dưới típ theo phân loại Tổ chức y tế thế giới năm 2019. UTBM tế bào vảy và UTBM hỗn hợp là dưới típ thường gặp nhất. Phần lớn UTBM vú dị sản có độ mô học III; tỷ lệ xâm nhập mạch, quanh thần kinh thấp và thường ít di căn hạch. Nhóm u này có chỉ số tiên lượng NPI thuộc nhóm tiên lượng trung bình, xấu. Thành phần ung thư biểu mô nội ống không thường gặp. Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu bệnh UTBM vú dị sản giúp hiểu rõ hơn đặc tính sinh học của u, góp phần điều trị và tiên lượng bệnh.
Polyp cholesterol được coi là tổn thương dạng polyp của tình trạng dư thừa cholesterol, đặc trưng bởi sự tích tụ các đại thực bào bọt ăn lipid trong mô đệm niêm mạc túi mật. Theo y văn, đây là polyp thường gặp nhất của túi mật, không có tính chất u và là tổn thương lành tính. Trong báo cáo này chúng tôi ghi nhận một trường hợp hiếm gặp ung thư hóa của polyp cholesterol túi mật. Người bệnh nữ, 71 tuổi, tiền sử đái tháo đường điều trị thường xuyên, đã phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, có biểu hiện đau bụng âm ỉ hạ sườn phải trong nhiều tháng. Siêu âm ổ bụng phát hiện phía đáy túi mật có đám tổ chức đồng âm với nhu mô gan kích thước 26x14 mm cần phân biệt giữa bùn mật hoặc u. Kết quả cộng hưởng từ cho đó là sỏi bùn túi mật. Người bệnh tiếp theo được mổ cắt túi mật nội soi. Trên đại thể, túi mật nhận được có tổn thương polyp dạng súp lơ, chiếm diện tích khoảng 30x20 mm, chỗ dày nhất khoảng 10 mm, màu vàng xám, mật độ mềm. Hình ảnh vi thể tương ứng là một polyp cholesterol giàu đại thực bào bọt kèm phản ứng viêm mạn tính hoạt động. Tuy nhiên, nhiều vùng biểu mô phủ và tuyến của polyp có hình ảnh biến đổi loạn sản độ thấp xen lẫn loạn sản độ cao tương đương ung thư biểu mô tại chỗ. Không thấy hình ảnh xâm nhập. Ngoài ra, niêm mạc túi mật lân cận cũng có phản ứng viêm mạn tính hoạt động kèm rải rác các ổ dị sản ruột, loạn sản độ cao. Chẩn đoán mô bệnh học được đưa ra là polyp cholesterol túi mật có loạn sản biểu mô đường mật độ cao tương đương ung thư biểu mô đường mật tại chỗ.
Đánh giá tỉ lệ mô đệm u và mối liên quan với các đặc điểm giải phẫu bệnh (GPB) ở bệnh nhân (BN) ung thư đại trực tràng (UTĐTT). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 112 BN UTĐTT, được phẫu thuật tại Bệnh viện Quân Y 103. Bệnh phẩm được xử lý theo quy trình xét nghiệm GPB thường quy. Đánh giá tỉ lệ mô đệm u trên tiêu bản nhuộm Hematoxylin-Eosin (HE) và xác định mối liên quan với các đặc điểm GPB. Kết quả: 27,7% BN có tỉ lệ mô đệm u cao, có mối liên quan giữa tỉ lệ mô đệm u cao với các đặc điểm u xâm lấn sâu, có di căn hạch, có xâm nhập mạch và xâm nhập thần kinh. Kết luận: Tỉ lệ mô đệm u cao là yếu tố tiên lượng kém ở BN UTĐTT.
Methyl hóa gen SEPT9 được FDA công nhận và sử dụng là dấu ấn sinh học xét nghiệm bằng máu ngoại vi đầu tiên trong sàng lọc UTĐTT vào năm 2016, ngày càng phát triển nhiều kĩ thuật xét nghiệm để tối ưu hóa đạt được độ nhạy, độ đặc hiệu cao. Hiện nay, phương pháp phát hiện DNA bị methyl hóa của gen SEPT9 đang áp dụng rộng rãi là bộ kit Epi proColon® 2.0 dựa trên phương pháp HeavyMethyl, có giá thành cao và nhiều nghiên cứu chỉ ra độ nhạy còn hạn chế. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu phát hiện mSEPT9 với phương pháp mới dựa trên semi – nested PCR phổ tuyến tính ở bệnh nhân UTĐTT. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu trên nhóm 50 người khỏe mạnh, 46 bệnh nhân UTĐTT được xét nghiệm mSEPT9 bằng phương pháp mới dựa trên semi – nested PCR phổ tuyến tính. Kết quả: Phương pháp xét nghiệm mới đã đạt được độ nhạy 73,91% và độ đặc hiệu là 80% cho thấy khả năng phát hiện hiệu quả DNA bị methyl hóa, với kĩ thuật mới sử dụng ExBP một cách sáng tạo mà không cần các đầu dò được sửa đổi tốn kém giúp đơn giản hóa việc thiết lập xét nghiệm và giảm tổng chi phí, tăng cường khả năng xét nghiệm trong các điều kiện khác nhau. Kết luận: Với kỹ thuật xét nghiệm mới này cải thiện đáng kể khả năng phát hiện mSEPT9 mang lại bước tiến tiềm năng trong sàng lọc và theo dõi UTĐTT. Các nghiên cứu lớn hơn trong tương lai được khuyến khích để xác nhận lợi ích lâm sàng của xét nghiệm này.