Ngoài những nhu cầu vay vốn không được cho vay được quy định tại Điều 8 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), các tổ chức tín dụng (TCTD) cũng có thể không được cho vay đối với các nhu cầu vốn để: (1) Góp vốn, hợp tác đầu tư, kinh doanh mà vốn góp hình thành nên vốn điều lệ của bên nhận vốn góp; góp vốn, hợp tác đầu tư, kinh doanh không hình thành nên vốn điều lệ của bên nhận vốn góp; nhận chuyển nhượng phần vốn góp tại công ty khác; (2) Thanh toán tiền đặt cọc để thực hiện các giao dịch trong tương lai mà tại thời điểm đặt cọc chưa đủ điều kiện để thực hiện theo quy định của pháp luật; bù đắp vốn tự có/hoàn tiền vay để mua bất động sản/hàng hóa; (3) Chứng minh khả năng tài chính của khách hàng vay trong các quan hệ giao dịch dân sự với bên thứ ba. Những quy định này trong dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2016/TT-NHNN làm phát sinh nhiều ý kiến khác nhau từ phía người vay và các TCTD. Bài viết sẽ cho thấy được những lợi ích và rủi ro của các hoạt động cho vay nói trên.
Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi với tổng số nông hộ được phỏng vấn là 240. Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy, kết quả nghiên cứu cho thấy, tín dụng đã góp phần gia tăng thu nhập cho nông hộ.
Bài viết giới thiệu nghiên cứu của GS. Mathias Hoffmann, GS. Emanuel Moench và các cộng sự (2022) về tác động của truyền thông chính sách NHTW trong việc giảm lạm phát kỳ vọng của hộ gia đình trong thời kỳ lạm phát cao.
Tổng quan chung về nông nghiệp hữu cơ; Xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới; Hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam; Nhận diện một số tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam; Những hạn chế trong phát triển nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam; Kết luận và khuyến nghị.
Nghiên cứu này tập trung vào sức tải xã hội của vịnh Hạ Long, dựa trên nhận thức của người dân và khách du lịch về sự đông đúc, dự tính lượng khách tối đa có thể chấp nhận được. Kết quả cho thấy tổng sức tải xã hội của du lịch vịnh Hạ Long khoảng trên 172.150 khách/ ngày, sức tải này phụ thuộc nhiều vào nhận thức xã hội của các bên liên quan, trực tiếp là người dân địa phương và du khách. Kết quả nghiên cứu là căn cứ cho tỉnh Quảng Ninh có những giải pháp quản lý và phát triển du lịch bền vững trên vịnh Hạ Long.
Quỳ Hợp là huyện nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An. Đây là khu vực có sự phong phú về tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn, có điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch sinh thái – nghỉ dưỡng đặc thù, hấp dẫn du khách. Tuy nhiên, các tài nguyên du lịch vẫn đang được khai thác một cách rời rạc, làm giảm độ hấp dẫn đối với khách du lịch thập phương. Bài báo tập trung nghiên cứu, đánh giá 08 điểm du lịch tự nhiên, nhân văn có khả năng liên kết với nhau để tạo thành 3 tuyến du lịch và 02 tour du lịch.
Trong thời đại công nghiệp 4.0, việc sử dụng các sản phẩm trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực của đời sống con người có ý nghĩa vô cùng to lớn, trong đó có hệ thống thông tin địa lý (GIS). Cơ sở dữ liệu GIS đã được các nước trên thế giới và Việt Nam ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong quy hoạch, quản lý tài nguyên môi trường. Nghiên cứu đã xác định và phân loại các điểm tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn, lễ hội, cơ sở hạ tầng và nét đặc sắc văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Trong những năm qua, Hội Liên hiệp phụ nữ ở những vùng nông thôn đã thực hiện nhiều hoạt động về bảo vệ môi trường. Vai trò của Hội phụ nữ trong bảo vệ môi trường nông thôn thể hiện qua các hoạt động như phát hiện, tố giác hành vi vi phạm pháp luật; tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quá trình giám sát và hoạt động giáo dục, tuyên truyền về bảo vệ môi trường của các cấp Hội còn tồn tại những hạn chế nhất định. Trên cớ sở nghiên cứu tổng quan nguồn dữ liệu và khảo sát thực tế ở một số địa phương, bài viết khái quát đánh giá về vai trò, hiện trạng hoạt động, đồng thời gợi mở một số giải pháp phát huy vai trò của Hội phụ nữ trong hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn giai đoạn hiện nay.
Việc phân vùng cảnh quan trên cơ sở phân vùng địa lý tổng hợp và kết quả phân loại cảnh quan, có xem xét đến mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.Vùng bờ tỉnh QUảng Ngãi có tính đa dạng và đặc thù về điều kiện kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên biển và tài nguyên vị thế. Mỗi tài nguyên cảnh quan có đặc trưng riêng về tự nhiên và nhân sinh. Phân tích đặc điểm của các tài nguyên cảnh quan là cơ sở để định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Nghiên cứu này sử dụng bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững và thiệt hại thiên tai cấp địa phương tại tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 – 2020. Kết quả cho thấy, mức độ phát triển bền vững, chỉ tiêu phát triển tổng hợp ở mức tương đối bền vững; phát triển trên các trụ cột chính không cân đối; có sự biến động và mất cân đối giữa các thành phần dẫn đén sự phát triển bền vững chung của tỉnh Hà Tĩnh chưa ổn định.