Bài viết tập trung nghiên cứu xu hướng phát triển các mô hình ngân hàng số trên thế giới và kinh nghiệm cấp phép, quản lý ngân hàng số của một số quốc gia tiêu biểu, từ đó, đưa ra những khuyến nghị chính sách phù hợp với bối cảnh, điều kiện của Việt Nam.
Sự ra đời của phương thức BPO (Bank Payment Obligations - Nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng) là sáng kiến nhằm cung cấp một công cụ thanh toán mới hỗ trợ hoạt động thương mại toàn cầu để thích ứng với sự phát triển của thời đại số. Bài viết không đi sâu khai thác phương thức BPO với những vấn đề lý luận ở phương diện thanh toán quốc tế, mà tập trung nghiên cứu phương thức này ở góc nhìn công nghệ số bằng phương pháp nghiên cứu định tính. Nghiên cứu cho thấy, phương thức BPO là bước tiến quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ số vào hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng với cơ chế giao dịch dựa trên việc so khớp dữ liệu tự động. Song, do một số nút thắt chưa được tháo gỡ nên cho đến nay, việc triển khai BPO chỉ dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm. Riêng tại Việt Nam, phương thức thanh toán BPO chưa được triển khai tại bất kỳ ngân hàng nào. Việc triển khai BPO gặp trở ngại hơn khi các công nghệ mới như Blockchain đang dần được ứng dụng trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng. Trong bối cảnh đó, bài viết đưa ra hai kịch bản về tương lai của BPO và một số khuyến nghị.
Bài báo sử dụng phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí để phân tích tài nguyên địa mạo theo nguyên tắc nguồn gốc hình thái,lãnh thổ, phân tích đặc điểm, giá trị tài nguyên với hoạt động du lịch ở tỉnh Điện Biên như: giá trị văn hóa lịch sử, giá trị thẩm mĩ, giá trị kinh tế. Kết quả cho thấy, địa hình tỉnh Điện Biên phân hóa thành 18 kiểu khác nhau như: dãy núi trung bình, địa lũy khối tảng cấu tạo chủ yếu bởi đá biến chất; khối núi bóc mòn trên cấu trúc khối tảng, khối núi bóc mòn thạch học cấu trúc dạng vòm khối tảng, khối núi xâm thực bóc mòn…
Du lịch đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Nhiều quốc gia, địa phương coi du lịch là động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong những yếu tố quan trọng , quyết định thành công của điểm đến du lịch để thu hút khách. Bài viết dựa trên mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch được phát triển bởi Ritchie và Crouch (2003), Dwyer và Kim (2003) gồm 05 yếu tố: sự hấp dẫn của điểm đến, nguồn nhân lực, từ đó phân tích sức hấp dẫn của du lịch Vĩnh Phúc.
Quần thể Hòn Yến là thắng cảnh cấp quốc gia, là điểm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng mới và hấp dẫn của tỉnh Phú Yên. Bài báo sử dụng phương thức thực địa, phương pháp chuyên gia và phân tích SWOT làm rõ các giá trị của tài nguyên du lịch Hòn Yến và các điều kiện khác. Điểm mạnh của tài nguyên du lịch Hòn Yến là sự đa dạng, với những giá trị độc đáo, cảnh sắc văn hóa làng quê vùng biển Nam Trung bộ. Hòn Yến có cơ hội rất lớn để phát triển du lịch cộng đồng gắn với những sản phẩm du lịch đặc thù như khám phá di sản địa chất bazan cột, hệ sinh thái san hô cạn, trải nghiệm lặn biển, nuôi tôm hùm….
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự tham gia của người dân còn hạn chế về số lượng, phần lớn người dân thiếu kiến thức và kỹ năng nên chất lượng phát triển du lịch nông thôn chưa cao…Để phát triển du lịch nông thôn xã Thổ Sơn cần giải quyết các vấn đề: đẩy mạnh phát triển du lịch nông thôn, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch nông thôn, hỗ trợ vốn, tập huấn/ bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức trong lĩnh vực du lịch, phát triển mạng lưới giao thông nông thôn, đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng và lành mạnh, sẽ thu hút sự tham gia và nâng cao năng lực phát triển du lịch nông thôn của người dân.
Từ góc độ nhân học/ dân tộc học, qua nghiên cứu trường hợp người Khmer và người Chăm, bài viết góp phần làm rõ thực trạng, tác động của hiện tượng này đến đời sống kinh tế - xã hội, an ninh chính trị vùng biên giới miền Tây Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quan hệ dân tộc xuyên biên giới của hai tộc người này ngày càng gia tăng, có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống kinh tế của họ.
Những năm gần đây, Lào Cai từng bước trở thành trung tâm du lịch lớn nhất của vùng Tây Bắc, là một trong những trọng điểm của du lịch Việt Nam. Theo chiến lược phát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Lào Cai phấn đấu trở thành điểm đến du lịch thiên nhiên, thể thao mạo hiểm “Xanh” và “thông minh” hàng đầu Việt Nam, gắn với bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng núi, nơi du khách sẽ có được những trải nghiệm khác biệt và đích thực trên mỗi hành trình.
Cùng với cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng mạng xã họi và đặc biệt là sự lay lan của virus SARS-COV-2 đã dẫn đến nhiều thay đổi trong hoạt động du lịch. Ngành du lịch toàn cầu đã buộc phải thích ứng với những xu huowgs, nhu cầu du lịch mới, cũng như sáng tạo ra những cách thức tổ chức quảng bá, tiếp thị nhằm tận dụng thành quả của khoa học công nghệ…gắn với những thay đổi về xu hướng, nhu cầu du lịch mới là những thuật ngữ chuyên ngành mới.
Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ, dựa vào trải nghiệm và tương tác giữa du khách và nhà cung cấp dịch vụ, vì vậy vai trò đồng tạo giá trị của du khách đóng vai trò rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển dịch vụ du lịch, nghiên cứu này tập trung phân tích vai trò của du khách và quá trình đồng tạo giá trị thương hiệu trong nền tảng truyền thông xã hội trong thời kì số hóa.