CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ cung cấp thông tin và bảo mật thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ / Nguyễn Thị Kim Thoa // Ngân hàng .- 2022 .- Số 24 .- Tr. 34-38 .- 368
Khái quát về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Cơ sở pháp lý của nghĩa vụ cung cấp thông tin và bảo mật thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Quy định của pháp luật về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
2 Đẩy mạnh thực hiện inbound marketing trong kinh doanh khách sạn / Nguyễn Thị Huyền Trang, Ngô Anh Tuấn // .- 2022 .- Số 12 .- Tr. 64-65 .- 647.9
Trong bối cảnh Đại dịch Covid-19 thế giới chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và cách mạng công nghiệp 4.0 tiếp tục có những tác động sâu rộng vào mọi mặt xã hội,ngành du lịch và khách sạn nói riêng cân tìm cho mình hướng đi mới. Bài viết đề cập đến inbound marketing trong kinh doanh khách sạn và đưa ra đề xuất thu hút khách hàng nhiều hơn.
3 Các yếu tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên khách sạn cao cấp / Nguyễn Ngọc Dung, Nguyễn Chí Viêt // .- 2022 .- Số 12 .- Tr. 66-68 .- 647.9
Bài viết nghiên cứu và xây dựng hệ thống động lực để khuyến khích nhân viên làm việc, duy trì sự gắn bó của họ với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả công việc, tạo ra sự phát triển bền vững của khách sạn là thực sự cần thiết.
4 Thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 đến nay – Thực trạng và giải pháp / Dương Ngân Hà, Lê Bích Ngân, Nguyễn Thị Phương Anh // Chứng khoán Việt Nam .- 2022 .- Số 290 .- Tr. 33-37 .- 658
Bài viết nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay. Chỉ ra một số khó khăn trong hoạt động thoái vốn từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến trình vốn tại các doanh nghiệp nhà nước.
5 Nợ công và tăng trưởng kinh tế : vai trò của thể chế / Hồ Thủy Tiên // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 306 .- Tr. 2-11 .- 330
Nghiên cứu phân tích tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế và vai trò của chất lượng thể chế. Sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 2002 – 2020 của các quốc gia ASEAN-5, với ước lượng bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS) và kiểm định tính vững với ước lượng GMM hệ thống (SGMM), kết quả chỉ ra rằng, trong khi nợ công gia tăng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, tác động này sẽ giảm khi chất lượng thể chế tăng. Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra rằng có một mức độ chất lượng thể chế mà trên đó độ co giãn của tăng trưởng kinh tế đối với nợ công trở nên ít tiêu cực hơn. Một số hàm ý chính sách quan trọng được đưa ra gồm chính phủ cần kiểm soát tốt tham nhũng và cải thiện chất lượng hoạch định chính sách sẽ loại bỏ một số đặc điểm kém hiệu quả của các chính phủ ở cấp địa phương và quốc gia và tạo điều kiện cho tác động tích cực của nợ đối với tăng trưởng.
6 Tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp / Nguyễn Đình An Giang // .- 2022 .- Số 290 .- Tr. 38-41 .- 658
Bài viết nhằm khái quát lại chặng đường 11 tháng của năm 2022, mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức nhất là áp lực từ bối cảnh thế giới, nhưng nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị cùng sức ảnh hưởng doanh nghiệp và nhân dân mà kinh tế dần ổn định. Từ đó tác giả đưa ra đề xuất tiếp tục duy trì phục hồi ổn định, đẩy mạnh phát triển kinh tế.
7 Ứng dụng kinh tế lượng không gian đánh giá tác động lan tỏa xuất khẩu tới năng suất nhân tố tổng hợp các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Việt Nam / Nguyễn Ánh Tuyết, Phùng Mai Lan // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 306 .- Tr. 12-22 .- 658
Nghiên cứu dựa trên bộ số liệu điều tra doanh nghiệp giai đoạn 2010-2019 của Tổng cục thống kê, sử dụng mô hình dữ liệu mảng không gian đánh giá tác động của xuất khẩu tới năng suất nhân tố tổng hợp theo tỉnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, xuất khẩu có tác động lan tỏa tích cực đến TFP của các doanh nghiệp được thể hiện thông qua kênh lan tỏa xuất khẩu theo chiều ngang, lan tỏa xuất khẩu ngược và tỷ trọng phần chia vốn nước ngoài. Tỷ lệ vốn vay bên ngoài cho thấy doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn chưa hiệu quả trong việc tăng TFP ở trong phạm vi mỗi tỉnh. Thu nhập của người lao động có tác động tích cực tới tăng TFP cả trong ngắn hạn và dài hạn nhưng lại có tác động tiêu cực cho các tỉnh lân cận. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp thúc đẩy lan tỏa tích cực và hạn chế lan tỏa tiêu cực tới năng suất doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Việt Nam.
8 Nền kinh tế Việt Nam trong không gian ba chiều của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung / Lý Đại Hùng // Nghiên cứu kinh tế .- 2022 .- Số 12(535) .- Tr. 3-13 .- 330
Bài viết đánh giá tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đến nền kinh tế Việt Nam, trong vai trò của một nền kinh tế nhỏ, hội nhập với thị trường tài chính quốc tế. Bằng chính thực nghiệm ghi nhận rằng, cuộc chiến cuộc chiến có thể sẽ làm suy giảm tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thông qua việc hạ thấp triển vọng tăng trưởng chung của thế giới, đồng thời đặt đồng Việt Nam trước rủi ro dao động cao, thông qua sự dao động của đồng đô la Mỹ và đồng Nhân dân tệ.
9 Tác động của hỗ trợ của chính phủ đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam: Vai trò trung gian của môi trường kinh doanh / Nguyễn Minh Thành, Vũ Thị Thúy Nga // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 306 .- Tr. 23-30 .- 658
Sử dụng dữ liệu mảng của doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa, nghiên cứu này đóng góp vào tổng quan bằng việc cung cấp những bằng chứng mới về vai trò của hỗ trợ chính phủ, môi trường kinh doanh đến trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) tại Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng hỗ trợ của chính phủ là một nhân tố quan trọng để thúc đẩy các hoạt động CSR của các doanh nghiệp, nhưng tác động mất ý nghĩa thống kê khi không đi kèm với việc cải thiện môi trường kinh doanh. Kết quả hàm ý rằng để thúc đẩy các hoạt động CSR, chính phủ không chỉ tập trung vào các khoản hỗ trợ mà quan trọng hơn phải đẩy mạnh hơn nữa sự minh bạch và nâng cao chất lượng của môi trường kinh doanh.
10 Ưu đãi thuế có phải là chiếc đũa thần? Nghiên cứu trường hợp ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại các khu công nghiệp và địa bàn khuyến khích đầu tư tại Việt Nam / Nguyễn Đức Thành, Phạm Văn Long, Phan Nhật Quang // .- 2022 .- Số 12(535) .- Tr. 14-26 .- 336.2
Nghiên cứu này sử dụng số liệu từ tổng điều tra doanh nghiệp giai đoạn 2015-2018 và mô hình hồi quy tác động cố định để tiến hành ước lượng tác động của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp lên các hành vi như mức đầu tư, tạo việc làm, khả năng đóng góp vào ngân sách của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp và địa bàn khuyến khích đầu tư. Kết quả đầu tư cho thấy doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp và địa bàn khuyến khích đầu tư không nhạy cảm với ưu đãi thuế. Nhóm nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng cho thấy ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có tác động lên tạo việc làm của doanh nghiệp.