Hệ số an toàn vốn (CAR) đóng vai trò rất quan trọng để đảm bảo rằng các ngân hàng có đủ nguồn lực tài chính hấp thụ một khoản lỗ hợp lý trước khi bị vỡ nợ và được các cơ quan quản lý sử dụng làm công cụ giảm rủi ro xảy ra trong hệ thống. Chính vì vậy, mục tiêu của bài nghiên cứu là đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến CAR của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam. Nhóm tác giả xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với dữ liệu dạng bảng được thu thập từ 29 NHTMCP trong giai đoạn nghiên cứu. Bằng phương pháp nghiên cứu dữ liệu bảng, nhóm tác giả nghiên cứu tác động của các biến độc lập: Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQR), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LAR), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDPGR), lạm phát (INF), Covid-19 (Covid). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nhóm yếu tố tác động cùng chiều đến CAR gồm EQR và INF, Covid; nhóm các yếu tố tác động ngược chiều đến CAR gồm ROA, NPL, GDPGR. SIZE. Chúng tôi không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa SIZE, LAR và CAR. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết nêu một số đề xuất góp phần cải thiện CAR cho các NHTMCP trong thời gian tới.
Bảo hiểm tài sản công có vai trò góp phần bảo vệ ngân sách của chính phủ khỏi những cú sốc bất ngờ do thiên tai, tuy nhiên việc thiết kế, xây dựng chương trình bảo hiểm phù hợp là một nhiệm vụ khó khăn đòi hỏi sự hợp tác và phối hợp với các bên liên quan khác nhau. Hiện nay, các quốc gia có thị trường bảo hiểm phát triển, các quốc gia thuộc nhóm Asean đều đã ban hành các chính sách khác nhau để phát triển bảo hiểm tài snar công. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển bảo hiểm tài sản công của một số quốc gia trên thế giới, bài viết đưa ra một số bà học cho Việt Nam.
Tổng hợp, khái quát những đặc trưng cơ bản của lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn; thực trạng chống thất thu thuế trong lĩnh vực kinh doanh này đồng thời đưa ra quan điểm và đề xuất các giải pháp về chống thất thu thuế lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn trong thời gian tới.
Trình bày quy trình và các cách thức tổ chức triển khai hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu suất công việc vào các đội thuộc các chi cục Thuế. Trong nghiên cứu, tác giả cũng đã tổng kết những kết quả đạt được từ thực hiện áp dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu suất công việc theo KPls, qua đó đề xuất các giải pháp để triển khai thực hiện có hiệu quả hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc theo KPls.
Những thay đổi trong định hướng hợp tác kinh tế của Hoa Kỳ với các nước trong thời gian tới sẽ tác động tới Việt Nam thông qua các kênh thương mại và đầu tư. Việc nghiên cứu về các đề xuất chính sách để phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ sang một trạng thái mới với quy mô lớn hơn, lợi ích nhiều hơn, tương xứng với quy mô kinh tế và thương mại, đầu tư gia tăng của quan hệ song phương trong đó có khả năng hình thành hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là cần thiết.
Nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng quát về sự hiểu biết về các sản phẩm công nghệ tài chính tại các ngân hàng trong những năm gần đây. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách liên quan đến việc cải thiện tốt các sản phẩm công nghệ tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam.
Bài viết đề cập đến thực trạng công cuộc chuyển đổi tại các doanh nghiệp Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả và thúc đẩy chuyển đổi số tại doanh nghiệp.
Bài viết đánh giá tác động chất lượng báo cáo tài chính đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất phương pháp đánh giá ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính và khoa học công nghệ đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó đê xuất giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo tài chính, hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp.
Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn đại dịch covid -19 thông qua dữ liệu bảng được thu thập từ báo cáo được kiểm toán của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2021 và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với các mô hình OLS,FEM, GMM sai phân. Từ các kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả khuyến nghị các chính sách để nâng cao hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại.