Điều trị nhắm trúng đích trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) có đột biến phức hợp trên gen EGFR (2 đột biến trên cùng 1 gen EGFR) đang còn nhiều thách thức trong thời gian vừa qua. Nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhân UTPKTBN có đột biến phức hợp trên gen EGFR được điều trị thuốc nhắm trúng đích thế hệ 1 và 2. Kết quả cho thấy tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) là 64%, trong đó có 2 trường hợp (8%) đạt đáp ứng hoàn toàn và 14 trường hợp (56%) đáp ứng một phần. Tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 92%, với 7 bệnh nhân (28%) bệnh giữ nguyên và 2 bệnh nhân (8%) tiến triển. Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) trung bình là 9,6 ± 0,7 tháng, với trung vị PFS là 9,1 tháng (95% CI: 8,0 – 9,7 tháng). Thời gian sống thêm toàn bộ (OS) trung bình là 18,7 ± 1,6 tháng, với trung vị OS là 20,0 tháng (95% CI: 10,8 – 23,3 tháng).
Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên các người bệnh được chẩn đoán tổn thương ung thư sớm hoặc tiền ung thư đường tiêu hóa được điều trị bằng kỹ thuật cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) tại Trung tâm nội soi – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2025 đến tháng 12/2025 nhằm đánh giá kết quả bước đầu và tính an toàn của kỹ thuật trên. Kết quả: Độ tuổi trung bình của người bệnh là 63,67 ± 11,53. Tổn thương có kích thước trung bình 28,76 ± 14,31 mm. Vị trí tổn thương ở trực tràng chiếm 40,57%. Tỷ lệ cắt bỏ nguyên khối (en-bloc) đạt 94,34%, tỷ lệ cắt R0 đạt 88,68%. Thời gian thực hiện thủ thuật trung vị là 60 phút (IQR: 45 – 85 phút). Tỷ lệ biến chứng chảy máu và thủng lần lượt là 2,83% và 3,77%, phần lớn được xử trí qua nội soi và điều trị nội khoa ổn định. Kết luận: ESD là phương pháp can thiệp hiệu quả, an toàn cho phép cắt bỏ triệt để các tổn thương ung thư sớm và tiền ung thư đường tiêu hóa.
Rối loạn lo âu lan tỏa là một rối loạn lo âu đặc trưng bởi tình trạng lo lắng quá mức, kéo dài, khó kiểm soát và đi kèm nhiều triệu chứng cơ thể. Trong thực hành lâm sàng, người bệnh thường có các bệnh lý cơ thể đồng mắc, ảnh hưởng đến quá trình điều trị nội trú. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 77 người bệnh rối loạn lo âu lan toả điều trị nội trú tại viện sức khoẻ tâm thần từ tháng 12/2024 đến tháng 7/2025 khảo sát mối liên quan giữa bệnh đồng mắc và thời gian nằm viện. Kết quả cho thấy gần một nửa số người bệnh có thời gian điều trị ít nhất 14 ngày. Người bệnh có bệnh lý tiêu hóa và cơ xương khớp đồng mắc có nguy cơ kéo dài thời gian nằm viện. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc có hướng điều trị đa chuyên khoa ở người bệnh rối loạn lo âu lan toả có bệnh lý thực thể đồng mắc giúp giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí và hạn chế các yếu tố nguy cơ bất lợi.
Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng phương pháp kết hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu được thực hiện trên 48 bệnh nhân gãy kín thân xương cánh tay, được phẫu thuật từ tháng 01/2023 đến tháng 09/2024. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 38,8 ± 14,3; tỷ lệ nam/nữ là 32/16. Nguyên nhân chấn thương chủ yếu là tai nạn giao thông, chiếm 54,2%. Vị trí gãy thường gặp nhất là 1/3 giữa thân xương cánh tay, chiếm 62,5%. Theo phân loại AO, gãy loại A chiếm 75,0%, loại B chiếm 22,9% và loại C chiếm 2,1%. Tất cả bệnh nhân đều liền vết mổ kỳ đầu, không ghi nhận trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ. Liệt thần kinh quay sau mổ gặp ở 6,3% trường hợp và đều hồi phục hoàn toàn sau 6 tháng. Tỷ lệ liền xương tốt đạt 95,8%; chậm liền xương và khớp giả đều chiếm 2,1%. Kết quả điều trị chung theo thang điểm Neer cải biên cho thấy tỷ lệ tốt và rất tốt đạt 93,8%, trung bình chiếm 4,2% và kém chiếm 2,1%. Kết hợp xương bằng nẹp khóa là phương pháp điều trị hiệu quả đối với gãy kín thân xương cánh tay, cho tỷ lệ liền xương cao, ít biến chứng và kết quả phục hồi chức năng tốt.
Viêm hệ thống giữ vai trò trung tâm trong sinh lý bệnh suy tim mất bù cấp, trong đó Interleukin-6 là cytokine tiền viêm quan trọng, nhưng dữ liệu về giá trị tiên lượng ngắn hạn của dấu ấn này còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trên 70 bệnh nhân suy tim mất bù cấp nhằm khảo sát giá trị của Interleukin-6 huyết thanh trong dự báo biến cố nội viện tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh. Kết quả ghi nhận có 12,9% bệnh nhân xảy ra biến cố nội viện, gồm 10,0% thở máy và 2,9% tử vong. Nồng độ Interleukin-6 ở nhóm có biến cố cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có biến cố, trung vị lần lượt là 303,80 pg/mL và 11,70 pg/mL (p < 0,001). Interleukin-6 cho thấy khả năng phân định biến cố nội viện ở mức tốt (AUC = 0,891), cao hơn NT-proBNP (AUC = 0,818). Tại điểm cắt 56,8 pg/mL, Interleukin-6 đạt độ nhạy 88,9%, độ đặc hiệu 80,3%, giá trị tiên đoán dương 40,0% và giá trị tiên đoán âm 98,0%.
Chuyển dạ kéo dài giai đoạn hoạt động là một nguyên nhân quan trọng làm tăng tỷ lệ can thiệp sản khoa cũng như biến chứng cho mẹ và con, vì vậy việc xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan có ý nghĩa thiết thực trong quản lý chuyển dạ và dự phòng kết cục bất lợi. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 504 thai phụ chuyển dạ giai đoạn hoạt động tại Bệnh viện Thuận Mỹ TDM từ tháng 05/2025 đến tháng 01/2026. Chuyển dạ kéo dài được xác định khi cổ tử cung mở từ 4 cm trở lên kèm tốc độ mở dưới 1 cm/giờ hoặc đường biểu diễn lệch phải so với đường báo động trên sản đồ WHO 2002.
Một số dữ liệu di truyền học trên các quần thể khác nhau cho thấy đa hình rs13266634 gen SLC30A8 có thể liên quan với nguy cơ mắc bệnh và đặc điểm kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường, tuy nhiên dữ liệu tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 90 bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh từ tháng 09/2025 đến tháng 01/2026. Kết quả cho thấy kiểu gen CT chiếm tỷ lệ cao nhất với 65,6%, tiếp theo là CC 26,7% và TT 7,8%; tần suất alen C và alen T lần lượt là 59,4% và 40,6%. Đường huyết lúc đói và HbA1c khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm kiểu gen (p < 0,05). Trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến hiệu chỉnh theo tuổi, BMI, hút thuốc lá, sử dụng insulin và số thuốc phối hợp, mỗi alen T bổ sung liên quan với tăng đường huyết lúc đói trung bình 23,86 mg/dL và tăng HbA1c trung bình 0,45%. Nghiên cứu bước đầu cho thấy đa hình rs13266634 gen SLC30A8 có thể liên quan với đường huyết lúc đói và HbA1c ở bệnh nhân đái tháo đường tại Việt Nam.
Tiền đái tháo đường là tình trạng rối loạn dung nạp glucose, làm tăng nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường type 2 và bệnh tim mạch, đặc biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 135 bệnh nhân tăng huyết áp đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ nhằm xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến tiền đái tháo đường. Thu thập thông tin qua phỏng vấn, đo các chỉ số nhân trắc học và xét nghiệm glucose máu lúc đói (FPG), HbA1c, bộ mỡ, siêu âm Doppler tim, protein niệu. Kết quả cho thấy tỉ lệ tiền đái tháo đường là 58,5%, liên quan đến BMI, vòng bụng, huyết áp và tiền sử gia đình đái tháo đường. Tỉ lệ này cao, cho thấy cần tăng cường tầm soát để can thiệp sớm và phòng ngừa biến chứng.
Phân tích các phản hồi của sinh viên về phương pháp giảng dạy One-Minute Preceptor (OMP) là cơ sở quan trọng để hoàn thiện phương pháp này. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 232 sinh viên Y khoa năm thứ tư đến năm thứ sáu tại Phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội về phản hồi đối với phương pháp OMP. Nghiên cứu cho thấy sinh viên có phản hồi tích cực đối với phương pháp OMP, với tỷ lệ đồng ý và rất đồng ý từ 59,9% đến 70,7%. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của OMP mà sinh viên phản hồi gồm: thiếu thời gian học tập, cơ sở lâm sàng chưa đáp ứng đủ điều kiện, giảng viên tiếp cận chưa hoàn toàn đúng phương pháp và sự thụ động của người học. Sinh viên cũng đề xuất tăng số buổi học, thời gian học và số lượng ca bệnh trong mỗi buổi học. Phương pháp OMP được sinh viên đón nhận tích cực và có tính khả thi trong giảng dạy lâm sàng. Việc cải thiện điều kiện triển khai và chuẩn hóa cách áp dụng phương pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo lâm sàng.
Galectin-3 và NT-proBNP có vai trò quan trọng trong phân tầng nguy cơ và tiên lượng. Galectin-3 phản ánh quá trình xơ hóa cơ tim, NT-proBNP phản ánh sức căng thành cơ tim. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát giá trị của Galectin-3 kết hợp với NT-proBNP trong hội chứng tim thận type 1 ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 92 bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp suy tim mạn tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Kết quả: Trung vị Galectin-3 là 32,05 ng/mL (24,13 – 46) và NT-proBNP là 8914 pg/mL (4210,6 – 22.352,3). Có 46,74% trường hợp có hội chứng tim thận type 1. Trong dự báo hội chứng tim thận type 1, Galectin-3 có giá trị AUC là 0,736 với độ nhạy 72,1% và độ đặc hiệu 67,3%. Khi kết hợp Galectin-3 và NT-proBNP, AUC tăng lên 0.745 với độ nhạy 76,7%, độ đặc hiệu 63,3%. Từ đó cho thấy, Galectin-3 kết hợp NT-proBNP có giá trị tiên lượng hội chứng tim thận type 1 ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn.