Đánh giá kết quả điều trị đau sau zona tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 04/2025 đến tháng 09/2025 bằng tiêm Botulinum toxin A tại chỗ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, không đối chứng trên 30 người bệnh được chẩn đoán đau sau zona đến khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 04/2025 đến tháng 09/2025 bằng tiêm Botulinum toxin A. Kết quả điều trị được đánh giá bằng mức độ cải thiện thang điểm VAS (visual analog scale) và sự hài lòng của người bệnh tại các thời điểm 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng sau điều trị. Kết quả: So với trước điều trị, điểm VAS giảm ở tất cả các thời điểm 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng và 3 tháng sau điều trị. Điểm VAS giảm nhanh nhất ở 2 tuần đầu sau đó giảm từ từ hơn ở các mốc thời gian tiếp theo. Sau 2 tuần, có tới 50% người bệnh đạt kết quả giảm VAS ≥ 50%, và có 3,3% người bệnh hết đau (VAS = 0). Sau 3 tháng, 100% người bệnh giảm VAS ≥ 50% và có 60% người bệnh hết đau. Tác dụng phụ chủ yếu là tại chỗ, không có tác dụng phụ toàn thân. Tại chỗ, tất cả người bệnh đều gặp đau tại chỗ với 66,37% đau ở mức độ nhẹ. Có 4/6 người bệnh có tổn thương vùng đầu mặt cổ (chiếm 13,3%) gặp tác dụng phụ mất đối xứng 2 bên. Tác dụng phụ này không ảnh hưởng chức năng, ảnh hưởng thẩm mỹ là chủ yếu. Kết luận: Tiêm Botulinum toxin A tại chỗ có kết quả cao và an toàn trong điều trị đau sau zona.
Mô tả đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống của người bệnh vảy nến thông thường từ 18 tuổi trở lên đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 158 người bệnh được chẩn đoán xác định bệnh vảy nến thông thường theo tiêu chuẩn lâm sàng điển hình và/hoặc tiêu chuẩn mô bệnh học tại bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 5/2024 đến tháng 10/2024. Kết quả: Trong 158 người bệnh tham gia nghiên cứu, phần lớn tập trung ở độ tuổi 20-60 với tuổi khởi phát chủ yếu trước 40 tuổi chiếm 72,8%. Thời gian bị bệnh trung bình là 4,9 ± 3,8 năm. Tỷ lệ mắc bệnh từ 5- 10 năm chiếm 37,3%, dưới 5 năm là 28,5%. Có 3,8% người bệnh có tiền sử gia đình mắc bệnh vảy nến. Vảy nến thể mảng chủ yếu là mức độ trung bình (47,5%). Tổn thương da phân bố nhiều vị trí, tập trung chủ yếu ở thân mình chiếm tỷ lệ cao nhất 91,8% và đầu 85,4%. Điểm chất lượng cuộc sống (DLQI) của người bệnh chủ yếu từ 6-10 chiếm tỷ lệ cao nhất 36,1%. Người bệnh vảy nến có rối loạn chuyển hóa lipid chiếm tỷ lệ 32,3 %, tăng huyết áp 20,3%. Kết luận: Người bệnh vảy nến thông thường chủ yếu mức độ trung bình, khởi phát trước 40 tuổi, thời gian mắc bệnh trung bình khoảng 5 năm. Tổn thương thường khởi phát ở da đầu và phân bố rộng rãi tại thân mình. Điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh chủ yếu từ 6-10 chiếm tỷ lệ cao nhất 36,1%. Tỷ lệ người bệnh vảy nến có kèm theo rối loạn chuyển hóa lipid và tăng huyết áp khá cao.
Đánh giá hiệu quả giảm đau bổ trợ của phương pháp điều trị Y học cổ truyền (YHCT) ở người bệnh đau do Zona tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2023. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp có đối chứng, thực hiện từ tháng 6-10/2023 trên 60 người bệnh đau do Zona; nhóm đối chứng chỉ dùng điều trị chuẩn (Gabapentin và kem bôi Lidocaine) và nhóm can thiệp được bổ sung liệu pháp YHCT gồm điện châm, thủy châm (Milgamma), xoa bóp bấm huyệt và chiếu tia hồng ngoại. Đánh giá kết quả qua điểm đau VAS và phân loại mức giảm đau sau 3 tuần điều trị. Kết quả: Nhóm can thiệp có mức giảm đau rõ rệt hơn so với nhóm đối chứng. Điểm VAS trung bình từ 70,1 giảm xuống 18,4 ở nhóm can thiệp (so với 30,97 ở nhóm đối chứng) sau 21 ngày (p<0,001). Tỷ lệ người bệnh đạt kết quả can thiệp có mức điều trị tốt (>70% giảm đau) là 73,3% ở nhóm can thiệp, so với 20% ở nhóm đối chứng (p<0,001). Mức độ hài lòng của người bệnh cũng cao hơn rõ rệt (điểm trung bình 4,53 so với 3,80; p<0,001) với 66,7% người bệnh can thiệp rất hài lòng so với 16,7% ở nhóm đối chứng. Không có tai biến nghiêm trọng. Kết luận: Điều trị bổ trợ YHCT cải thiện đáng kể kết quả giảm đau và nâng cao sự hài lòng của người bệnh đau do Zona, là phương pháp an toàn, cần cân nhắc kết hợp trong thực hành lâm sàng.
Mô tả đặc điểm hình ảnh dermoscopy và mô bệnh học của lichen đơn mạn tính vùng da đầu, góp phần hỗ trợ chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý viêm mạn tính khác vùng da đầu như vảy nến, viêm da dầu tiết bã hay lupus ban đỏ mạn tính. Đối tượng và phương pháp: 14 ca bệnh lichen đơn dạng mạn tính vùng da đầu được chẩn đoán xác định tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội 2019-2025. Tất cả người bệnh được khám dermoscopy (thiết bị 20x–140x) và sinh thiết da để làm mô bệnh học nhuộm Hematoxylin– Eosin. Các đặc điểm dermoscopy được ghi nhận và đối chiếu với kết quả mô bệnh học. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được áp dụng. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ người bệnh chiếm 57,1 % và nam chiếm 42,9 %. Tuổi trung bình 33,1±11,7 tuổi, dao động từ 17 đến 59 tuổi. Thời gian mắc bệnh dưới 2 năm. Vị trí tổn thương 100% vùng đỉnh đầu, có 5 trường hợp (35,7 %) chỉ có 1 mảng tổn thương vùng đỉnh, 9 trường hợp (64,3 %) có 2 mảng tổn thương vùng đỉnh. Các đặc điểm hình ảnh Dermoscopy điển hình: đỏ da (100%), bong tróc vẩy da quanh nang tóc và các sợi tóc gãy (89,5%), dấu hiệu sợi chổi (Broom fiber sign) (100%), nang tóc giãn rộng “peripilar white halo” (47,3%), vùng mất nang tóc khu trú (63,2%), mạch máu hình chấm hoặc (57,9%). Các đặc điểm hình ảnh mô bệnh học: quá sản thượng bì với dày sừng, dày lớp hạt (100%), trung bì xâm nhập viêm bạch cầu quanh mạch (100%) với dấu hiệu bánh xe răng cưa (dấu hiệu Gear wheel) (70%) và không có dấu hiệu bánh kẹp (dấu hiệu hamburger). Kết luận: Dermoscopy cung cấp các dấu hiệu đặc trưng giúp gợi ý chẩn đoán lichen đơn mạn tính vùng da đầu, đặc biệt trong các trường hợp tổn thương mạn tính khó phân biệt lâm sàng. Sự kết hợp giữa dermoscopy và mô bệnh học giúp tăng độ chính xác chẩn đoán và tránh sinh thiết không cần thiết.
Mô tả đặc điểm lâm sàng của sẹo lõm do trứng cá tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2021- 2022 và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 79 người bệnh có sẹo lõm do trứng cá đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 7/2021 đến tháng 7/2022. Kết quả: Tuổi trung bình là 24,2 ± 5,4, chủ yếu là nữ (59,8%). Thời gian bị sẹo lõm là 3,2 ± 2,3 năm. Loại sẹo hay gặp nhất là sẹo đáy phẳng (59,8%), má là vị trị hay gặp nhất (34,5%). Về mức độ sẹo lõm, sẹo độ 4 chiếm tỉ lệ cao nhất (65,5%). Trứng cá bọc và thời gian diễn biến trên 2 năm có liên quan đến mức độ nặng của sẹo lõm. Tất cả người bệnh cảm thấy bị ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và giao tiếp xã hội. Kết luận: Người bệnh sẹo lõm do trứng cá chủ yếu là nữ trẻ tuổi, sẹo tồn tại nhiều năm, sẹo đáy phẳng. Đa số người bệnh có sẹo có mức độ 4. Trứng cá bọc và thời gian diễn biến trứng cá dài có liên quan đến mức độ nặng của sẹo.
Mô tả đặc điểm lâm sàng của người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 125 người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo hoặc âm đạo được làm xét nghiệm tìm 12 tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 5/2025 – 10/2025. Kết quả: Nghiên cứu tiến hành trên 125 người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo, trong đó 54 trường hợp (43,2%) dương tính với ít nhất một tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nhóm tuổi 20–29 chiếm tỷ lệ cao nhất (46,4%), nam giới nhiều hơn nữ giới (47,3% so với 44,1%). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy dịch tiết nhiều (OR = 3,14; KTC 95%: 1,06–6,54), dịch đục (OR = 5,56; KTC 95%: 1,73–17,90), có triệu chứng cơ năng (OR = 2,27; KTC 95%: 1,58–8,25) và có dấu hiệu viêm trên lâm sàng (OR = 3,41; KTC 95%: 1,27– 7,35) đều liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả dương tính. Ngược lại, tiền sử sử dụng kháng sinh làm giảm tỷ lệ phát hiện tác nhân (OR = 0,30; KTC 95%: 0,06–0,87). Kết luận: Các đặc điểm lâm sàng, đặc biệt tính chất dịch tiết và dấu hiệu viêm, có giá trị trong dự báo khả năng dương tính với BLTQĐTD ở người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo. Việc sử dụng kháng sinh trước đó làm giảm khả năng phát hiện các tác nhân.
Đánh giá kết quả điều trị và tác dụng không mong muốn của phác đồ tiêm dưới da Secukinumab 300 mg trong điều trị bệnh vảy nến thể thông thường mức độ trung bình - nặng tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 04/2024 đến tháng 09/2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 36 người bệnh vảy nến thể thông thường mức độ trung bình - nặng điều trị Secukinumab 300 mg tiêm dưới da tại tuần 0, 1, 2, 3, 4, 8, 12, 16. Đánh giá đáp ứng điều trị thông qua chỉ số PASI, BSA, DLQI và ghi nhận tác dụng không mong muốn trong 16 tuần. Kết quả: Chỉ số PASI, BSA và DLQI giảm dần trong 16 tuần điều trị, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết quả điều trị dựa theo chỉ số PASI 75 thường bắt đầu quan sát rõ rệt ở tuần thứ 3 (33,3%) và tăng liên tục đến tuần 12 (100%), duy trì ổn định tới tuần 16. Tỷ lệ đáp ứng PASI 90 và PASI 100 đạt được từ tuần thứ 4 và tăng liên tục với tỷ lệ tương ứng lần lượt là 88,9% và 36,1% ở tuần 16. Có 3 trường hợp (8,3%) gặp tác dụng không mong muốn, bao gồm mệt mỏi (2,8%), da Secukinumab 300 mg là liệu pháp điều trị ít tác dụng không mong muốn trong điều trị bệnh vảy nến thể thông thường mức độ trung bình - nặng.
Mô tả đặc điểm lâm sàng của người bệnh nấm móng tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2024 và một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 40 người bệnh được chẩn đoán xác định nấm móng dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng soi tươi trực tiếp hoặc nuôi cấy phát hiện có nấm tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 4/2024 đến tháng 10/2024. Kết quả: Nấm móng thường gặp ở nông dân (22,5%) và những người tiếp xúc nhiều với nước (57,5%), thời gian mắc bệnh thường kéo dài > 6 tháng (72,5%). Có 70% người bệnh chỉ bị nấm móng tay, 17,5% bị nấm móng chân và 12,5% bị cả nấm móng tay và nấm móng chân. Thể bờ tự do thường gặp nhất chiếm 69,9%; thể bờ gần (16,2%). Các triệu chứng lâm sàng của nấm móng bao gồm dấu hiệu tách móng, dày sừng dưới móng và thay đổi màu sắc móng chiếm từ 33,1- 44,9%. Nấm sợi là căn nguyên chính gây nấm móng gấp Kết luận: Nấm móng tay thường gặp hơn nấm móng chân. Thể bờ tự do và bờ bên thường gặp nhất, sau đó là thể bờ gần, thể trắng nông bề mặt và thể loạn dưỡng toàn bộ ít gặp nhất. Các triệu chứng lâm sàng của nấm móng thường gặp là dấu hiệu tách móng, dày sừng dưới móng và thay đổi màu sắc móng. Nấm sợi là căn nguyên chính gây nấm móng.
Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh gút mạn tính có tăng acid uric máu tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng mở, so sánh trước - sau điều trị và so sánh với nhóm đối chứng. 120 bệnh nhân gút mạn tăng acid uric máu được chia làm 2 nhóm: nhóm nghiên cứu dùng viên nén bao phim GT1 và nhóm đối chứng dùng Allopurinol trong 30 ngày. Kết quả: Sau 30 ngày điều trị, nồng độ acid uric máu của nhóm nghiên cứu giảm trung bình 107,25 μmol/L; 70% bệnh nhân đạt mức acid uric chuẩn, thấp hơn so với nhóm đối chứng (93,33%). Phân loại đáp ứng cho thấy: tốt 25%, khá 61,67%, trung bình 13,33%, không có đáp ứng kém. Kết luận: GT1 có tác dụng hạ acid uric và cải thiện lâm sàng nhưng hiệu quả hạ acid uric thấp hơn Allopurinol; thuốc an toàn, ít tác dụng phụ, có thể dùng cho bệnh nhân không dung nạp Allopurinol hoặc phối hợp hỗ trợ điều trị.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bơm xi măng sinh học có bóng (BXM) của bệnh nhân xẹp đốt sống vùng bản lề ngực – thắt lưng (T11-L2) do loãng xương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 81 bệnh nhân được chẩn đoán xẹp đốt sống vùng bản lề ngực thắt lưng đơn tầng do loãng xương, được điều trị bằng phương pháp BXM có bóng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 01/2023 đến tháng 01/2024. Đánh giá kết quả lâm sàng dựa trên thang điểm đau VAS, chỉ số chất lượng cuộc sống MacNab. Kết quả chỉnh hình được đánh giá qua các chỉ số X-quang gồm chiều cao thân đốt sống và các góc gù (góc xẹp thân đốt, góc Cobb) trước phẫu thuật và tại các thời điểm theo dõi sau phẫu thuật. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 68 ± 10,2, trong đó nữ giới chiếm đa số (75,3%). Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán loãng xương nặng với T-score trung bình là -3,4 ± 0,7. Điểm đau VAS trung bình cải thiện đáng kể từ 7,1 ± 1,6 trước mổ xuống còn 2,2 ± 1,2 ngay sau mổ và 0,4 ± 0,8 tại thời điểm 12 tháng (p<0,001). Về kết quả chỉnh hình, chiều cao các tường trước, giữa và sau của thân đốt sống đều được cải thiện có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Các góc biến dạng cột sống cũng giảm đáng kể: góc xẹp thân đốt trung bình giảm từ 14° xuống 7,8°, góc Cobb trung bình giảm từ 13,7° xuống 9,5°. Sau 12 tháng, 96,3% bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt theo thang điểm MacNab. Tỷ lệ biến chứng thấp, với các trường hợp rò xi măng không triệu chứng (11,1% rò bờ trước, 6,2% rò vào đĩa đệm) và 3 trường hợp (3,7%) xẹp đốt sống mới thứ phát. Kết luận: Bơm xi măng sinh học có bóng là một phương pháp can thiệp tối thiểu, an toàn và hiệu quả cao trong điều trị xẹp đốt sống vùng bản lề ngực – thắt lưng do loãng xương. Phương pháp này không chỉ giúp giảm đau nhanh chóng, bền vững mà còn có khả năng phục hồi tốt hình thái giải phẫu của cột sống, qua đó cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh.